BDSGPHẠM VĂN THƯNHÀ SÁNG LẬP BDSG
ENTài khoản
Kết nối
Menu
Siêu hướng dẫn · Nội dung có hỗ trợ AI

Cải tiến quy trình: chọn việc, tìm nguyên nhân gốc, đo thật và giữ thành quả

Đăng ngày 23/10/2026

Mục lục bài nghiên cứu
Ảnh đại diện bài Cải tiến quy trình: đo trước, đổi sau, giữ thành quả

Tóm tắt và điều cần nhớ

Cải tiến quy trình là sửa cách làm một việc lặp lại hằng ngày, như nhận đơn, sản xuất, giao hàng hay giải quyết hồ sơ, để việc ấy tốn ít thời gian, ít lỗi và đúng điều khách cần hơn. Bài đi theo câu hỏi của người phải quyết định: làm quy trình nào trước, nhìn hiện trạng bằng gì, tìm nguyên nhân ra sao, dùng phương pháp nào và làm sao biết kết quả là thật.

  • Dự án cải tiến đáng tin khi có ba thứ: bài toán chọn có lý do, số đo trước khi đổi và cách giữ thay đổi sau khi đội dự án rời đi.
  • Chọn phương pháp theo dạng mất mát: bước thừa và chờ đợi gợi Lean, kết quả dao động gợi Six Sigma, một khâu chặn cả dòng gợi Theory of Constraints, thiết kế sai từ gốc gợi tái thiết kế.
  • Nguyên nhân gốc cần bằng chứng: Pareto chọn chỗ nhìn, xương cá và 5 Whys lập giả thuyết, dữ liệu loại bớt giả thuyết.
  • Con số cải tiến phải đọc có hoài nghi: so với mốc nào, đo cách nào, còn gì khác đổi, tốn bao nhiêu.

Vì sao nhiều dự án cải tiến không để lại gì

Một quy trình hỏng hiếm khi hỏng ở chỗ ai cũng thấy. Hồ sơ nằm chờ ở một bàn chưa ai đo, một mẫu biểu bị điền lại ba lần vì ba bộ phận cần ba định dạng, một lỗi nhỏ ở đầu dây chuyền phình thành hàng trả lại ở cuối. Vì khó biết chính xác cái gì sai, ở đâu, bao nhiêu, nhiều dự án khởi động bằng một công cụ có sẵn thay vì một câu hỏi rõ.

Lợi ích thường được kể gồm chi phí thấp hơn, chất lượng đều hơn, nhân viên bớt việc thừa, quyết định dựa trên số liệu và khách hài lòng hơn; mỗi điều chỉ đáng tin khi có số đo trước và sau. Làm sai thì hậu quả có ba dạng: chọn nhầm quy trình nên công sức dồn vào chỗ ít thiệt hại, không có số nền nên không ai biết đã tốt lên hay chưa, và thay đổi không được ghi thành cách làm chuẩn nên vài tháng sau mọi thứ về như cũ. Bài đi theo chuỗi bảy việc ở Hình 1, mỗi việc cần dữ kiện thay vì cảm giác.

Chuỗi bảy việc của một dự án cải tiến quy trình
Hình 1. Chuỗi bảy việc của một dự án cải tiến (minh hoạ khái niệm).

Khái niệm cốt lõi: bốn nguyên tắc và vài thuật ngữ

Quy trình là chuỗi bước biến đầu vào thành đầu ra cho một người nhận, trong hay ngoài doanh nghiệp. Cải tiến quy trình là phân tích cách làm hiện tại, tìm chỗ mất mát, đổi cách làm rồi lặp lại, thường theo từng bước nhỏ; tái thiết kế thì bỏ cách cũ và vẽ lại từ đầu, nên rủi ro cao hơn.

Bốn nguyên tắc chạy xuyên suốt mọi phương pháp. Cải tiến liên tục là tìm chỗ yếu, đổi, đo rồi dùng kết quả đo để tìm chỗ yếu kế tiếp. Giảm lãng phí là bỏ mọi việc khách không trả tiền cho. Chuẩn hóa là để một việc làm giống nhau mỗi lần và có mốc so sánh. Hướng về khách hàng là định nghĩa giá trị từ phía người nhận, không từ phía người làm.

Ba nhóm thuật ngữ sẽ lặp lại. Toyota gọi ba thứ cần loại bỏ là muda (lãng phí), mura (không đồng đều) và muri (đòi hỏi quá sức) [1]. Danh sách lãng phí của Lean thường kể tám loại: lỗi, sản xuất dư, vận chuyển, xử lý thừa, di chuyển thừa, chờ đợi, tồn kho và tài năng không được dùng [2]. Ba số đo phổ biến là thời gian chu trình (từ lúc bắt đầu đến lúc xong một đơn vị), thông lượng (số đơn vị xong trong một khoảng thời gian) và tỷ lệ lỗi.

Chọn quy trình làm trước và đặt mục tiêu đo được

Nguồn lực luôn ít hơn danh sách ý tưởng, nên bước đầu là xếp hạng. Lập danh sách ứng viên từ nhân viên, khách hàng, chuyên gia và lãnh đạo; ước lượng lợi ích bằng phân tích chi phí và lợi ích, đánh giá rủi ro hoặc SWOT; chấm mỗi ứng viên từ một đến năm điểm theo lợi ích, độ khả thi, mức khẩn cấp và tầm ảnh hưởng đến mục tiêu chung; rồi cộng điểm để xếp.

Phân tích Pareto giúp chọn chỗ nhìn trước khi chấm: đếm khiếu nại, lỗi hoặc giờ mất theo từng nguyên nhân, xếp từ lớn đến nhỏ và xem vài nguyên nhân đầu chiếm bao nhiêu phần tổng. Quy tắc "hai mươi phần trăm nguyên nhân gây tám mươi phần trăm hậu quả" chỉ là kinh nghiệm; nếu các cột gần bằng nhau thì không có điểm nổi trội để dồn sức. Hình 2 xếp nhanh ứng viên theo công sức và tác động.

Mục tiêu phải đo được trước khi bắt tay, theo khung SMART: đo được, cụ thể, có thời hạn, khả thi và gắn với mục tiêu chung. "Giảm thời gian từ nhận đơn đến giao còn ba ngày làm việc trong hai tháng, tính trung bình đơn đóng trong tháng" dùng được; "nâng cao trải nghiệm khách" thì không. Đối sánh (benchmarking) với bộ phận khác, đối thủ hoặc ngành khác giúp đặt mức hợp lý.

Ma trận xếp ứng viên cải tiến theo công sức và tác động
Hình 2. Xếp ứng viên theo công sức và tác động (vị trí các điểm là giả định).

Vẽ hiện trạng: bản đồ quy trình, SIPOC và đi xem tại chỗ

Bản đồ quy trình trả lời: ai làm gì, theo thứ tự nào, chờ ở đâu. Lưu đồ cơ bản chỉ ra các bước, bản chi tiết đi xuống từng thao tác; lưu đồ chéo bộ phận (swimlane) chia làn theo người hoặc phòng ban nên lộ chỗ chuyển giao và việc trùng; SIPOC (nhà cung cấp, đầu vào, quy trình, đầu ra, khách hàng) chốt ranh giới; bản đồ chuỗi giá trị (value stream mapping, VSM) ghi cả thời gian làm lẫn thời gian chờ để tách bước tạo giá trị khỏi bước không tạo, rồi dùng bản hiện trạng ấy để thiết kế bản tương lai.

Cách vẽ: chọn một quy trình đang vướng mục tiêu hoặc ảnh hưởng khách; gom những người thực sự làm việc đó; đánh dấu điểm đầu, điểm cuối, đầu vào, đầu ra, số đo; dùng ký hiệu chuẩn (chữ nhật cho hành động, thoi cho điểm rẽ, ô van cho đầu và cuối, mũi tên cho dòng chảy, hình chờ cho chỗ dừng tạm; BPMN là bộ đầy đủ hơn); rồi nhờ người trong cuộc kiểm lại.

Đi xem tại chỗ (gemba walk, gemba là nơi việc thật diễn ra) là bước kiểm chứng: đứng ở nơi làm việc, quan sát một ca thật, hỏi người làm, ghi những điều bản vẽ không có như đường vòng, chỗ chờ, cách làm tắt. Bản vẽ trong phòng họp thường là quy trình theo quy định, còn quy trình đang chạy chỉ lộ ra sau khi đi xem. Giả định một tiệm rửa xe ô tô vẽ bảy bước trên giấy; theo dõi một ca thật mới thấy xe nằm chờ ở ba điểm và chỉ được thợ làm trực tiếp vài phút trong gần một giờ ở tiệm.

Tìm nguyên nhân gốc: Pareto, xương cá, 5 Whys và những chỗ dễ sai

Phân tích nguyên nhân gốc đi theo sáu việc: mô tả vấn đề bằng con số; thu dữ liệu qua khảo sát, phỏng vấn, quan sát và thống kê; liệt kê mọi nguyên nhân có thể; thu hẹp về nguyên nhân thật; làm biện pháp chặn nó; theo dõi chỉ số xem nó có biến mất không. Sơ đồ xương cá do Kaoru Ishikawa phát triển gom nguyên nhân vào các nhánh như con người, phương pháp, máy móc, vật liệu, cách đo và môi trường [3]; 5 Whys hỏi "tại sao" liên tiếp đến khi chạm một nguyên nhân sửa được.

Giả định một xưởng túi da gom bốn mươi phiếu lỗi trong tháng: hai mươi bốn phiếu là keo bong ở mép quai, tám là đường may lệch, sáu là da trầy xước, hai là sai màu chỉ. Pareto cho thấy keo bong chiếm sáu phần mười nên xương cá đào sâu vào đó: loại keo, thời gian chờ keo khô, nhiệt độ phòng, cách kiểm tra lực bám. Chuỗi 5 Whys dừng ở việc ca đêm rút ngắn thời gian chờ keo khô để kịp giao đơn. Mỗi câu trả lời chỉ là giả thuyết, vì hai người hỏi có thể đi hai nhánh khác nhau; cần nhật ký sản xuất, số đếm hay ảnh chụp làm bằng chứng, và đừng dừng ở từ mơ hồ như "giao tiếp kém".

Khi cần phòng lỗi thay vì chữa lỗi, FMEA (phân tích dạng lỗi và ảnh hưởng) chấm mỗi kiểu hỏng theo mức nghiêm trọng, khả năng xảy ra và khả năng bị phát hiện; điểm cao nhất xử lý trước. Biểu đồ kiểm soát vẽ số đo theo thời gian quanh đường trung bình, giới hạn ở ba độ lệch chuẩn; điểm vượt giới hạn là tín hiệu có nguyên nhân đặc biệt, còn lại là dao động thường.

Chọn phương pháp theo dạng mất mát

Biết mất mát nằm ở đâu rồi mới chọn phương pháp, kẻo nhét vấn đề vào khuôn có sẵn; Hình 3 gợi ý cách ghép. Lean (tinh gọn) nhắm vào lãng phí và chờ đợi bằng bản đồ chuỗi giá trị, sản xuất đúng lúc (just-in-time), kanban và poka-yoke (thiết kế cách làm khó sai). Kaizen là cải tiến nhỏ, tăng dần, do mọi nhân viên làm mỗi ngày [1]. Six Sigma nhắm vào biến động và lỗi bằng chu trình DMAIC (định nghĩa bài toán, đo, phân tích, cải tiến, kiểm soát), do Motorola phát triển năm 1986, với mục tiêu dưới 3,4 lỗi cho mỗi một triệu cơ hội [4]; các chuyên gia Black Belt và Green Belt dẫn dắt dự án.

Lý thuyết về các ràng buộc (Theory of Constraints, TOC) hợp khi một khâu giới hạn cả dòng: xác định ràng buộc, khai thác hết công suất của nó, xếp các khâu khác phục vụ nó, nâng công suất nếu cần rồi lặp lại [5]. Tái thiết kế quy trình kinh doanh (Business Process Re-engineering, BPR) dành cho quy trình sai từ thiết kế và cần lãnh đạo cấp cao dẫn dắt vì động đến cách nghĩ. Quản lý chất lượng toàn diện (TQM) rộng hơn một dự án: hướng khách hàng, cải tiến liên tục, mọi người tham gia, tiếp cận theo quy trình, quyết định theo dữ liệu, lãnh đạo cam kết.

Tư duy thiết kế (Design Thinking) hợp khi vấn đề nằm ở trải nghiệm người dùng: thấu cảm, chốt vấn đề, nghĩ ra ý tưởng, làm mẫu, thử với người dùng. Hoshin Kanri và Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard) không sửa một quy trình mà nối dự án với chiến lược, qua mục tiêu từng cấp và chỉ số.

Các phương pháp cải tiến xếp theo dạng mất mát
Hình 3. Gợi ý ghép dạng mất mát với phương pháp (cách xếp của bài, không phải chuẩn chung).

Thử nhỏ, triển khai và vượt kháng cự thay đổi

Cần nhiều ý tưởng giải pháp trước khi thu hẹp. Động não (brainstorming) tạo ý tưởng nhanh, chưa chấm vội; sơ đồ tương đồng (affinity diagram, hay sơ đồ KJ) dán mỗi ý lên một mẩu giấy rồi gom theo điểm chung. Sau đó chấm các nhóm theo tác động và độ khả thi, chọn một nhóm thử ở phạm vi nhỏ như một ca, một chi nhánh hay một dòng sản phẩm; thử nhỏ giảm rủi ro và cho cơ hội sửa trước khi nhân rộng.

Triển khai cần phạm vi rõ, đội có vai trò cụ thể, mốc thời gian và người sở hữu từng việc. Thay đổi quy trình đụng đến người, nên kế hoạch cần nêu ai bị ảnh hưởng, thế nào, và truyền thông đều đặn. Kháng cự thường đến từ nỗi lo mất việc, thêm việc hoặc mất quyền quyết định; cách xử lý được nhắc nhiều là mời người làm tham gia từ đầu, đào tạo, kèm cặp và trả lời công khai các lo ngại.

Đo tác động và giữ thành quả

Việc đo bắt đầu trước khi đổi: chọn chỉ số gắn với mục tiêu; thu số nền đủ dài để thấy dao động thường; đổi; thu số sau; rồi so. Bước dễ bị bỏ là hỏi chênh lệch có do ngẫu nhiên hay do lý do khác như mùa vụ, sản phẩm đổi, người mới. Nên so cùng kỳ, dùng biểu đồ kiểm soát hoặc đối chiếu nhóm đã đổi với nhóm chưa đổi, và báo cả kết quả tốt lẫn xấu cho quản lý và người làm.

Giữ thành quả dựa trên chuẩn hóa: ghi cách làm mới thành chuẩn, đào tạo người mới theo chuẩn và dùng chuẩn làm mốc so sánh. Khi thực tế lệch khỏi chuẩn thì hoặc chuẩn sai hoặc cách làm sai, và cả hai đều là cơ hội học; chuẩn là mức sàn cho vòng cải tiến sau, không phải trần.

Văn hóa cải tiến là phần khó nhất vì không mua được. Ba thứ quyết định nó: lãnh đạo hỏi về số đo và dành nguồn lực, người làm được phép đề xuất và thử trong khuôn khổ rõ, thất bại được mổ xẻ để rút bài học thay vì bị giấu.

Ví dụ quốc tế: Lean ở một bệnh viện huyện Nam Phi

Một nghiên cứu hành động đăng năm 2016 áp Lean vào khoa khám ngoại trú của Bệnh viện Catherine Booth, bệnh viện huyện nông thôn ở KwaZulu-Natal, Nam Phi, đo thời gian bằng quan sát trực tiếp tại sáu điểm dịch vụ. Cả sáu điểm giảm thời gian chu trình và thời gian chờ; điểm Investigations (cận lâm sàng) giảm 27% thời gian chu trình, còn thời gian chờ ở phòng khám giảm từ 80,95 xuống 74,43 phút nhưng chưa đạt mục tiêu của điểm này; hiệu suất trung bình theo tác giả tăng từ 16,35% lên 20,13% [6]. Theo phép tính của bài, mức giảm ở phòng khám khoảng tám phần trăm: có thật nhưng khiêm tốn, và nghiên cứu nói thẳng một điểm không đạt mục tiêu.

Tình huống tại Việt Nam: cao su, thủ tục hành chính và cấp điện

Báo Đại biểu Nhân dân ngày 24/3/2026 thuật lại ba doanh nghiệp cao su tại Việt Nam đưa Lean và Kaizen vào sản xuất [7]. Theo bài, Công ty TNHH Mai Thảo bố trí lại mặt bằng, rồi dùng Kaizen ở xưởng chế biến mủ 3L, giảm tỷ lệ hạ loại từ 3,98% còn 2,01% sau năm tháng; với sản lượng hơn 3,4 triệu kg mỗi năm, công ty giảm gần 77.000 kg sản phẩm lỗi và tiết kiệm hơn 3.400 USD, không kèm khoảng thời gian cho khoản này [7]. Công ty TNHH MTV Cao su Bình Long nêu năng suất lao động tăng hơn 11%, bài không ghi mốc so sánh hay thời gian đo [7].

Thử kiểm phép tính (Hình 4): nếu tỷ lệ hạ loại áp cho đúng 3,4 triệu kg, mức giảm cho khoảng 67.000 kg; con số 77.000 kg khớp nếu sản lượng quanh 3,9 triệu kg, mức mà cụm "hơn 3,4 triệu" không loại trừ. Bài cũng không nói sản lượng ấy của xưởng mủ 3L hay của cả công ty. Công ty Cổ phần Cao su Thái Dương cắt mỗi mẻ lưu hóa từ 8 xuống 6 phút và ghi năng suất tăng 25% [7], đúng bằng mức giảm thời gian; nếu công đoạn này là điểm nghẽn thì số mẻ mỗi giờ tăng khoảng một phần ba, nên cần biết đã tính theo cách nào.

Ở quy mô quốc gia tại Việt Nam, Báo Đại biểu Nhân dân ngày 26/12/2025 nhắc Nghị quyết 66/NQ-CP về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và thuật lại Công điện 242/CĐ-TTg ngày 21/12/2025: Thủ tướng yêu cầu cắt giảm tối thiểu 30% điều kiện kinh doanh, chi phí tuân thủ và thời gian giải quyết thủ tục; bài tự nêu 2.371 trên 6.974 điều kiện kinh doanh đã cắt, khoảng 34%, không dẫn cơ quan công bố [8].

Công văn của UBND tỉnh Hà Tĩnh, đăng ngày 18/3/2026, yêu cầu phấn đấu cắt giảm tối thiểu 50% thời gian giải quyết thủ tục và 50% chi phí tuân thủ so với năm 2024, xong trước 30/5/2026 [9]. Hai bài học. Mức giảm phải gắn với mốc gốc, như Hà Tĩnh ghi "so với năm 2024", và mỗi mục tiêu cần số đo riêng: số điều kiện bị cắt dễ đếm, còn thời gian và chi phí tuân thủ thì các trang đã mở không nêu kết quả đo.

Cấp điện trung áp là ví dụ nhìn quy trình từ phía khách. Theo trang Bộ Công Thương ngày 23/9/2022, EVNHCMC cho biết từ đầu năm đã cấp điện cho 287 khách hàng đăng ký đấu nối trung áp, với thời gian giải quyết bình quân của ngành Điện là 3,19 ngày; khách chỉ làm một thủ tục là đăng ký, mọi giao dịch đều trực tuyến [10]. Con số trung bình che hai nhóm: 4,05 ngày với 160 trạm do ngành Điện đầu tư, 2,37 ngày với 127 trạm do khách đầu tư [10]. Trang không nêu số trước cải tiến, nên đây là hiện trạng tự công bố, không phải mức cải thiện.

Ba doanh nghiệp cao su: số đo nào có, số đo nào thiếu
Hình 4. Ba doanh nghiệp cao su: số liệu theo Báo Đại biểu Nhân dân 24/3/2026.

Sai lầm thường gặp, giới hạn và khi nào không nên dùng

Sai lầm phổ biến nhất là chọn công cụ trước bài toán: người quen Six Sigma thấy vấn đề nào cũng là dự án DMAIC. Thứ hai là tin chuyện thành công không kèm mốc gốc, cách đo và năm đo; nhiều tài liệu kể mức giảm hai chữ số ở hãng nổi tiếng mà không nói đo thế nào, nên bài không dùng. Thứ ba là coi tự động hóa là bước đầu: robot phần mềm (RPA) hay trí tuệ nhân tạo nhân bản cả cách làm tốt lẫn cách làm hỏng, và dữ liệu khách đưa vào công cụ mới phải được bảo vệ.

Về giới hạn: cải tiến quy trình hợp với việc lặp lại và có số đo, còn với công việc sáng tạo thì chuẩn hóa quá tay có thể cản trở. Six Sigma cần đủ dữ liệu để thống kê có nghĩa, BPR là canh bạc nếu lãnh đạo không đứng sau. Dự án nào cũng tốn thời gian của người giỏi nhất và làm gián đoạn việc đang chạy, nên kết quả kỳ vọng nhỏ hơn chi phí thì không nên làm. Hình 5 liệt kê câu hỏi cần đặt trước khi tin một con số.

Bốn nhóm câu hỏi khi đọc một con số cải tiến
Hình 5. Bốn nhóm câu hỏi khi đọc một con số cải tiến (minh hoạ khái niệm).

Cách áp dụng trong bốn tuần và câu hỏi tự kiểm

Kế hoạch (Hình 6) dành cho một quy trình nhỏ, ví dụ từ nhận đơn đến giao hàng của một cửa hàng. Mục tiêu bốn tuần không phải là cải tiến xong mà là có số nền, một giả thuyết nguyên nhân có bằng chứng và một thử nghiệm nhỏ có kết quả đo.

  • Bước 1 (tuần 1): chọn quy trình bằng bốn tiêu chí, viết mục tiêu có số đo và thời hạn, thu số nền cho ít nhất hai chỉ số.
  • Bước 2 (tuần 1 đến 2): vẽ lưu đồ chéo bộ phận cùng người làm, rồi đi theo ba ca thật để sửa bản vẽ.
  • Bước 3 (tuần 2): gom dữ liệu lỗi hoặc thời gian mất, làm Pareto, rồi xương cá và 5 Whys cho nhóm đứng đầu, mỗi nguyên nhân kèm bằng chứng.
  • Bước 4 (tuần 3): chọn một giải pháp, thử ở phạm vi nhỏ trong một tuần và ghi những gì khác cũng đổi trong tuần đó.
  • Bước 5 (tuần 4): đo lại, so với số nền, báo cả phần chưa đạt; nếu tốt thì viết thành cách làm chuẩn và hẹn kiểm lại sau sáu tuần.

Ba câu tự kiểm trước khi nhân rộng: nếu bỏ giải pháp này đi thì con số có quay về mốc cũ không, người làm hằng ngày có thấy việc dễ hơn không, và ai đọc số đo sau khi đội dự án rời đi.

Kế hoạch bốn tuần cho một dự án cải tiến nhỏ
Hình 6. Kế hoạch bốn tuần và lần kiểm lại sau đó (minh hoạ kế hoạch).

Kết luận

Cải tiến quy trình không phải cuộc thi giữa các phương pháp. Giá trị nằm ở chuỗi quyết định có dữ kiện: chọn đúng chỗ, nhìn đúng thực tế, tìm nguyên nhân thật, thử nhỏ, đo thật thà và biến điều học được thành cách làm chuẩn. Các ví dụ về cao su, thủ tục hành chính và cấp điện cho thấy cùng một điểm yếu: con số công bố thường thiếu mốc gốc hoặc cách đo, và người đọc phải tự hỏi trước khi tin.

Nguồn và phương pháp

Bài này là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo (AI), diễn đạt lại bằng lời riêng và theo dàn ý riêng; đây không phải bản dịch và không đi theo thứ tự chương của sách. Tài liệu nguồn là Process Improvement Strategies EXPLAINED của Business Explained (2023), trang 1 đến 78. Các nguồn web được mở và đối chiếu ngày 23/10/2026 (giờ Việt Nam); số liệu về cao su, công điện, tỉnh Hà Tĩnh, EVNHCMC và nghiên cứu ở Nam Phi lấy từ các trang đó, còn các phép tính chênh lệch là của bài.

Chưa kiểm chứng đầy đủ: các câu chuyện thành công và con số trong sách nguồn (bài không dùng); mô tả Hoshin Kanri, Thẻ điểm cân bằng, TQM, Design Thinking, FMEA và BPMN lấy từ sách nguồn chứ không từ trang web; chưa đọc toàn văn Nghị quyết 66/NQ-CP, Công điện 242/CĐ-TTg và công văn của tỉnh Hà Tĩnh, chỉ dựa vào cách các trang đã mở thuật lại; số liệu cao su và cấp điện do doanh nghiệp tự công bố, các trang không nêu kiểm chứng độc lập; tóm tắt nghiên cứu ở Nam Phi không định nghĩa chỉ số hiệu suất; các ví dụ tiệm rửa xe và xưởng túi da là giả định. Nên đọc bản gốc của sách và các nguồn trên để có đầy đủ bối cảnh.