BDSGPHẠM VĂN THƯNHÀ SÁNG LẬP BDSG
ENTài khoản
Kết nối
Menu
Mô hình kinh doanh · Nội dung có hỗ trợ AI

Chiến lược phân phối: các kiểu kênh, độ phủ và cách chọn cho từng sản phẩm (Phần 1/2)

Đăng ngày 23/10/2026

Mục lục bài nghiên cứu
Ảnh đại diện bài Chiến lược phân phối: các kiểu kênh, độ phủ và cách chọn (Phần 1/2)

Tóm tắt và điều cần nhớ

Đây là phần 1 trong chuỗi hai bài về chiến lược phân phối: phần này dựng nền tảng về các kiểu phân phối, điều kiện và đánh đổi của từng kiểu; phần 2 bàn về thiết kế, vận hành, công nghệ và phân phối nội dung.

  • Phân phối là hệ thống đưa sản phẩm tới đúng nơi, đúng lúc, đúng giá mà khách quen mua; khác bán hàng, nó vẫn chạy khi bạn vắng mặt.
  • Mọi chiến lược quy về ba quyết định: chiều dài kênh (bao nhiêu trung gian), chiều rộng (bao nhiêu điểm bán mỗi khu vực), mức kiểm soát (ai nắm giá, trải nghiệm, dữ liệu khách).
  • Phân phối đại trà đổi kiểm soát lấy độ phủ; chọn lọc và độc quyền làm ngược lại.
  • Mỗi tầng trung gian làm thay bạn một số việc nhưng lấy một phần biên lợi nhuận.
  • Kênh số chồng lên kênh truyền thống; hãy hỏi ở mỗi kênh bạn giữ được bao nhiêu quan hệ với khách.

Vì sao sản phẩm tốt vẫn cần một hệ thống phân phối

Nhiều chủ doanh nghiệp tin rằng sản phẩm tốt sẽ tự lan ra nhờ truyền miệng. Thực tế, khách chỉ mua được thứ họ tìm thấy ở nơi họ vẫn mua sắm, với giá chấp nhận được và thời gian giao hợp lý. Marketing tạo ra mong muốn, còn phân phối biến mong muốn thành giao dịch. Hàng đến chậm, hết hàng hoặc hư hỏng làm khách, nhà bán lẻ và nhà sản xuất cùng mất niềm tin; với bán qua mạng, kênh còn phải chở thông tin về đơn, lỗi và đổi trả theo chiều ngược lại.

Cần tách bán hàng khỏi tạo ra phân phối. Bán hàng là đổi sản phẩm lấy tiền từng khách một, mỗi khách mới đòi thêm một lượt nỗ lực; tạo phân phối là dựng mạng lưới để khách mới tìm đến với nỗ lực ngày càng nhỏ. Hàng hóa vật lý đơn giản thường hợp tư duy phễu (funnel); sản phẩm số hợp vòng quay (flywheel), nơi khách hài lòng kéo thêm khách; nền tảng nhiều bên phải hỏi làm sao để bên này thu hút bên kia.

Khái niệm cốt lõi: kênh, trung gian, chuỗi cung ứng và quản trị phân phối

Phân phối (distribution) là toàn bộ quá trình đưa sản phẩm hoặc dịch vụ từ nơi tạo ra tới người dùng cuối; trong 4P của marketing, đó là chữ P place. Kênh phân phối (distribution channel) là con đường sản phẩm đi qua, gồm các trung gian (intermediaries) như nhà phân phối, bán sỉ, bán lẻ, đại lý, đơn vị nhận nhượng quyền. Chiến lược phân phối là kế hoạch chọn kênh, số điểm bán và mức kiểm soát để sản phẩm sẵn có với đúng nhóm khách mà vẫn có lãi.

Kênh phân phối không đồng nghĩa với chuỗi cung ứng (supply chain): chuỗi cung ứng đi từ nguyên liệu tới thành phẩm và cân đối cung với cầu, còn chiến lược kênh đứng về phía cầu, đưa hàng tới khách đang sẵn sàng mua. Hai thứ gặp nhau ở tích hợp dọc (vertical integration): tự nắm thêm khâu sản xuất hay cửa hàng để kiểm soát điểm bán và trải nghiệm, đổi lại tốn vốn và gánh nặng quản lý. Về vận hành, quản trị phân phối (distribution management) gồm năm nhóm việc sau.

  • Đóng gói để hàng tới nơi nguyên vẹn.
  • Giữ tồn kho đủ dùng, tránh thiếu hàng lẫn chôn vốn.
  • Xử lý đơn: lấy hàng, giao, duyệt, xuất hóa đơn.
  • Chọn cách vận chuyển, chuẩn bị chứng từ nếu qua biên giới.
  • Báo ngay các bên liên quan khi giao chậm.

Phân phối điện tử (e-distribution) là trường hợp riêng: phần mềm, trò chơi, ứng dụng, nhạc, phim, sách điện tử đến tay khách qua internet. Kênh này nhanh và ít chi phí kho vận, nhưng khách đòi nhận trong vài phút, còn tệp lỗi lập tức thành khiếu nại.

Bốn nhóm trung gian và phần việc mỗi nhóm làm thay bạn

Mỗi trung gian nhận một phần việc của nhà sản xuất để đổi lấy một phần biên lợi nhuận. Nhà bán sỉ (wholesaler) mua khối lượng lớn, giữ kho rồi bán lại cho nhà bán lẻ, giúp nhà sản xuất giảm số hóa đơn và số điểm giao. Nhà phân phối (distributor) có kho, đội xe và quan hệ với nhiều điểm bán nên nhà sản xuất khỏi tự xây hạ tầng giao nhận, và có thể ghép các dòng sản phẩm bổ trợ để bán chéo.

Nhà bán lẻ (retailer) là điểm chạm cuối, cộng một mức chênh lệch lên giá nhập, dưới dạng cửa hàng, trang web, danh mục đặt hàng hay điện thoại. Nhượng quyền (franchise) khác hẳn: bên nhận quyền dùng thương hiệu và cách làm của bên nhượng quyền, đổi lại trả phí ban đầu và phí duy trì; thương hiệu mạnh mở rộng được số điểm bán mà không phải đầu tư từng điểm, nhưng phải chuẩn hóa quy trình.

Nhượng quyền chia ba loại: phân phối sản phẩm (như đại lý ủy quyền của một hãng), mô hình kinh doanh (cả hệ thống vận hành theo khuôn mẫu, như chuỗi ăn uống) và nhượng quyền xã hội (nhân rộng dịch vụ có mục tiêu xã hội, như y tế cộng đồng). Ở Việt Nam, Điều 284 Luật Thương mại 2005 mô tả nhượng quyền thương mại là hoạt động trong đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự bán hàng, cung ứng dịch vụ theo cách thức do mình quy định, gắn với nhãn hiệu và bí quyết kinh doanh, đồng thời kiểm soát và hỗ trợ bên nhận quyền [1].

Bốn nhóm trung gian
Hình 1. Bốn nhóm trung gian và phần việc nhận thay nhà sản xuất (minh hoạ khái niệm).

Chiều dài kênh: bán trực tiếp, gián tiếp và mô hình kép

Chiều dài kênh được đo bằng số trung gian giữa nhà sản xuất và người mua. Phân phối trực tiếp là bán thẳng cho người dùng cuối qua cửa hàng riêng, website, ứng dụng hoặc đội bán hàng; phân phối gián tiếp đi qua nhà phân phối, bán sỉ, bán lẻ rồi mới tới người mua, và hàng tiêu dùng bán ở khắp nơi gần như buộc phải chọn đường này.

Hai đường đánh đổi cho nhau. Bán trực tiếp giữ được giá, trải nghiệm, dữ liệu khách nhưng đòi vốn cho cửa hàng, kho, nhân sự và mở rộng chậm; bán gián tiếp mở nhanh với ít vốn nhưng phải chia biên, mất dấu khách cuối và phụ thuộc nỗ lực của đối tác. Biên cộng dồn qua các tầng dễ bị đánh giá thấp. Ví dụ giả định, không gắn với doanh nghiệp nào: giá xuất xưởng 40 nghìn đồng, nhà phân phối cộng tám phần trăm, đại lý cấp hai cộng bảy phần trăm, cửa hàng lẻ cộng mười lăm phần trăm thì người mua trả khoảng 53 nghìn đồng, cao hơn chừng một phần ba.

Mô hình kép (dual distribution) kết hợp cả hai: bán qua đối tác để lấy độ phủ, giữ cửa hàng hoặc kênh trực tuyến riêng để nắm trải nghiệm, dữ liệu và phần biên cao hơn. Rủi ro lớn nhất là xung đột kênh (channel conflict): đại lý thấy hãng bán thẳng giá thấp hơn sẽ giảm đầu tư cho sản phẩm. Cách xử lý thường là phân vai: giá niêm yết thống nhất, mỗi kênh có dòng sản phẩm riêng, hoặc đơn trực tuyến vẫn chia hoa hồng cho đại lý khu vực.

So sánh ba kiểu theo chiều dài kênh
Hình 2. Bán trực tiếp, gián tiếp và mô hình kép về kiểm soát, vốn và độ phủ (minh hoạ khái niệm).

Chiều rộng kênh: phân phối đại trà và phân phối mở rộng

Chiều rộng kênh cho biết trong mỗi khu vực, sản phẩm có mặt ở bao nhiêu điểm bán. Phân phối đại trà (intensive distribution) đặt hàng vào càng nhiều điểm càng tốt, từ tạp hóa tới siêu thị và sàn trực tuyến; hợp với hàng mua thường xuyên, giá thấp, ít khác biệt, nơi khách sẵn sàng đổi nhãn nếu không thấy hàng quen, như nước giải khát, mì gói, xà phòng.

Độ phủ có ba khoản phí. Một là chi phí phục vụ: càng nhiều điểm nhỏ, chi phí đi tuyến, giao lẻ và chiết khấu càng lớn. Hai là biên mỏng, vì hàng đại trà thường cạnh tranh bằng giá nên cần sản lượng lớn mới có lãi. Ba là khó kiểm soát: trên hàng nghìn điểm, doanh nghiệp khó biết hàng có đủ, bày đúng chỗ, bán đúng giá hay không. Chỉ nên chọn đại trà khi khách đổi nhãn nếu thiếu hàng, mỗi điểm đủ lãi để trả chi phí phục vụ và có cách kiểm tra tồn kho, giá tại điểm bán.

Phân phối mở rộng (extensive distribution), theo cách dùng của bài này, nhấn vào độ rộng loại kênh thay vì độ dày điểm bán: dùng đồng thời siêu thị, bán sỉ, bán trực tuyến và bán cho doanh nghiệp để chạm nhiều nhóm khách. Một số tài liệu coi hai thuật ngữ gần như đồng nghĩa, nên cần xem tác giả nói về số điểm hay số loại kênh. Hướng này hợp với sản phẩm phổ thông, khi ngân sách đủ cho nhiều kênh song song.

Chọn lọc và độc quyền: đổi độ phủ lấy quyền kiểm soát

Ở đầu bên kia của dải, nhà sản xuất chủ động giới hạn số điểm bán. Phân phối chọn lọc (selective distribution) chỉ trao hàng cho đối tác đạt tiêu chí về vị trí, năng lực tư vấn, bảo hành và hình ảnh; hợp với hàng điện tử, gia dụng, nội thất, thời trang cao cấp, nơi khách cần tư vấn và dịch vụ sau bán. Đổi lại mức thâm nhập thấp hơn, nhà sản xuất có nhân viên được đào tạo và dịch vụ đồng đều.

Phân phối độc quyền (exclusive distribution) cực đoan hơn: mỗi khu vực chỉ có một hoặc rất ít đối tác. Nhà sản xuất có tiếng nói lớn về giá, chiết khấu và dịch vụ; đối tác dám đầu tư showroom, đào tạo, quảng bá vì không bị cạnh tranh ngay bên cạnh. Hàng xa xỉ, ô tô, công nghệ cao thường chọn lối này vì khan hiếm là một phần giá trị thương hiệu. Rủi ro là phụ thuộc: thương hiệu còn non dễ bị đối tác dẫn dắt, và một tranh chấp có thể làm mất cả thị trường khu vực.

Vì vậy thỏa thuận độc quyền cần ghi rõ phạm vi địa lý, thời hạn, chỉ tiêu tối thiểu, điều kiện chấm dứt, chuẩn dịch vụ hậu mãi và quyền tiếp cận dữ liệu khách; điều khoản về giá bán lại hay cấm bán ngoài vùng có thể liên quan pháp luật cạnh tranh nên cần tham vấn pháp lý.

Độ phủ và mức kiểm soát
Hình 3. Độ phủ và mức kiểm soát của các kiểu phân phối (minh hoạ khái niệm, vị trí tương đối).

Phân phối hòa nhập và phân phối ngược: hai kiểu ít được bàn tới

Phân phối hòa nhập (inclusive distribution) nhắm vào khách thu nhập thấp, vùng xa và biến hộ kinh doanh rất nhỏ thành điểm phân phối. Sản phẩm thường phải đổi (gói nhỏ, giá thấp), người bán nhỏ cần thu nhập đủ hấp dẫn, vốn xoay vòng và đào tạo; nguồn vốn hỗ trợ cho kiểu này thường hạn chế. Điện thoại di động, bản đồ định vị và ứng dụng đặt hàng giúp giảm chi phí liên lạc ở nơi mạng lưới thưa.

Phân phối ngược (reverse distribution) đi chiều ngược lại: sản phẩm từ người dùng quay về doanh nghiệp để tái chế, tân trang hoặc xử lý, phổ biến với thiết bị điện tử cũ. Kênh này cần điểm thu gom, vận chuyển ngược, kiểm định và đường ra cho hàng thu hồi; hàng bị trả lại trong bán trực tuyến cũng đi đường này.

Kênh truyền thống, kênh số và bài toán ai sở hữu quan hệ với khách

Kênh số (digital channel) là cách doanh nghiệp liên lạc và giao dịch với khách bằng phương tiện điện tử. Theo nguồn lực bỏ ra, có kênh hữu cơ (tối ưu tìm kiếm, mạng xã hội, email) chậm nhưng tích lũy, và kênh trả phí (quảng cáo tìm kiếm, mạng xã hội, hiển thị) nhanh nhưng dừng chi là dừng khách. Phép phân biệt quan trọng không kém là kênh tự sở hữu (website, ứng dụng, danh sách email của bạn) với kênh thuê của bên thứ ba (sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, ứng dụng giao hàng).

Nền tảng bên thứ ba đem lại lượng khách có sẵn cùng thanh toán, giao hàng, nhưng họ giữ dữ liệu khách, đặt luật chơi và mức phí, và có thể đổi cả hai. Vì vậy chiến lược số bền thường đi từ thuê sang sở hữu: dùng sàn để tìm khách, rồi dẫn khách về kênh của mình để chăm sóc và bán lại. Doanh nghiệp chỉ bán ngoài đời cũng cần ít nhất một cách để khách hỏi và đặt hàng trực tuyến.

Ba cách có mặt trên kênh số
Hình 4. Ba cách có mặt trên kênh số và điều doanh nghiệp giữ được ở mỗi cách (minh hoạ khái niệm).

Cách chọn kiểu phân phối: sáu bước

Quy trình đi từ hành vi của khách tới hợp đồng với đối tác, thay vì bắt đầu bằng việc chọn sẵn một mô hình. Mỗi bước nên để lại một sản phẩm đầu ra kiểm tra được, như bảng hành vi mua hay thỏa thuận mẫu.

  • Bước 1: Mô tả hành vi mua: khách mua ở đâu, bao lâu một lần, có cần tư vấn, dùng thử, lắp đặt hay bảo hành không.
  • Bước 2: Tính kinh tế đơn vị từng kênh (giá, biên gộp, chiết khấu từng tầng, chi phí phục vụ) để biết mỗi đồng doanh thu còn lại bao nhiêu.
  • Bước 3: Xác định mức kiểm soát cần giữ về giá, trải nghiệm, dữ liệu khách, theo định vị thương hiệu.
  • Bước 4: Chọn độ phủ: hàng mua đều nghiêng về đại trà; hàng cần tư vấn, về chọn lọc; hàng định vị cao, về độc quyền hoặc bán trực tiếp; dịch vụ cần nhân rộng nhanh, về nhượng quyền.
  • Bước 5: Chọn đối tác theo tiêu chí viết sẵn, rồi ký thỏa thuận về vùng bán, giá, tồn kho, báo cáo, dịch vụ sau bán.
  • Bước 6: Chạy thí điểm ở một khu vực, đo doanh số mỗi điểm, chi phí phục vụ, mức tuân thủ giá, rồi mới nhân rộng.
Sáu bước chọn kiểu phân phối
Hình 5. Sáu bước chọn kiểu phân phối (minh hoạ quy trình).

Tình huống áp dụng tại Việt Nam

Vinamilk cho thấy cách một hãng hàng tiêu dùng kết hợp phân phối đại trà với kênh trực tiếp. Theo báo cáo phân tích của Chứng khoán Phú Hưng, cuối tháng 11/2021 công ty có gần 250.000 điểm bán lẻ; cửa hàng Giấc Mơ Sữa Việt đạt 651 điểm sau quý II/2022, còn doanh thu kênh trực tuyến quý này tăng hơn ba lần so với cùng kỳ [2]. Có thể đọc đây là mô hình kép: sữa là hàng mua đều nên cần hiện diện dày ở tạp hóa, siêu thị, còn cửa hàng riêng và kênh trực tuyến giúp hãng giữ trải nghiệm, giá niêm yết và dữ liệu người mua (diễn giải của bài).

Cấu trúc bán lẻ giải thích vì sao hàng tiêu dùng khó bỏ kênh gián tiếp. Theo báo cáo ngành bán lẻ tháng 12/2025 của SHS Research, dẫn Fiingroup, cuối năm 2024 cả nước có khoảng 1,4 triệu cửa hàng tạp hóa của hộ kinh doanh và hơn 8.300 chợ truyền thống; kênh hiện đại chỉ chiếm khoảng 19% bán lẻ hàng tiêu dùng nhanh năm 2025 theo Bain & Company và NIQ [3]. Muốn phủ toàn quốc, nhãn hàng phải quản lý nhà phân phối đi sâu vào hàng triệu điểm nhỏ, nên bài toán chính là kiểm soát tồn kho, giá và trưng bày.

Honda Việt Nam minh họa phân phối chọn lọc có mức kiểm soát cao. Năm 2022, hãng cùng gần 800 HEAD, tức cửa hàng bán xe và dịch vụ do Honda ủy nhiệm, triển khai các chương trình hướng dẫn lái xe an toàn, và đánh giá, tuyên dương những HEAD tiêu biểu trong tháng 3 và quý 1/2022 [4]. Với sản phẩm cần bảo hành, phụ tùng và liên quan an toàn, ủy nhiệm có chọn lọc cùng nhiệm vụ ngoài bán hàng giúp giữ dịch vụ đồng đều mà vẫn phủ rộng. Nguồn không nêu tiêu chuẩn để thành HEAD.

Kênh số ở Việt Nam đã đủ lớn để thành đường phân phối chính. Theo Thời báo Tài chính Việt Nam (tháng 2/2025), quy mô thị trường thương mại điện tử năm 2024 đạt 25 tỷ USD, tăng 20% so với 2023 và chiếm khoảng 9% tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước; riêng bốn sàn Shopee, Lazada, TikTok Shop và Tiki có tổng giao dịch 13,8 tỷ USD theo báo cáo của YouNet ECI [5]. Dòng tiền dồn về vài nền tảng nghĩa là thương hiệu hưởng lượng khách lớn nhưng chịu luật chơi và phí của nền tảng.

Sai lầm thường gặp, giới hạn và khi nào không nên dùng

Phần lớn sai lầm trong phân phối đến từ việc chọn kiểu theo mong muốn thay vì theo điều kiện của sản phẩm và doanh nghiệp, rồi không theo dõi kênh sau khi mở. Sáu lỗi dưới đây lặp lại ở nhiều ngành, từ hàng tiêu dùng đến dịch vụ.

  • Chọn độ phủ theo tham vọng: mở hàng nghìn điểm khi chưa theo dõi được tồn kho và giá.
  • Nhầm bán hàng với phân phối: dồn tiền khuyến mãi mà không dựng được đối tác và quy trình ổn định.
  • Cho độc quyền quá sớm: trao cả khu vực cho một đối tác, không chỉ tiêu, không điều khoản chấm dứt.
  • Bỏ qua xung đột kênh: để giá trực tuyến thấp hơn giá đại lý mà không có quy tắc.
  • Chỉ nhìn biên danh nghĩa, quên chi phí phục vụ, hàng trả về và vốn kẹt trong tồn kho của kênh.
  • Phụ thuộc một sàn hoặc một nhà phân phối duy nhất, không có dữ liệu khách của riêng mình.

Các kiểu phân phối chỉ là mô hình lý tưởng; thực tế là một dải liên tục và đổi theo giai đoạn. Chọn lọc và độc quyền không hợp với hàng phổ thông, đại trà không hợp với hàng cần tư vấn hay thương hiệu dựa vào khan hiếm, nhượng quyền không hợp khi quy trình chưa chuẩn hóa. Bài chỉ là kiến thức tổng quát, không thay thế tư vấn pháp lý và tài chính.

Kế hoạch thử nghiệm bốn tuần và câu hỏi tự kiểm

Kế hoạch bốn tuần dưới đây dành cho doanh nghiệp đang bán qua ít nhất một kênh và muốn thử mở thêm hoặc siết lại, với mục tiêu biết một giả thuyết về kênh đúng hay sai bằng dữ liệu của chính mình.

  • Tuần 1: Vẽ sơ đồ kênh hiện tại; mỗi kênh ghi doanh thu, biên sau chiết khấu, chi phí phục vụ, tỷ lệ hết hàng, hàng trả về, dữ liệu khách nắm được.
  • Tuần 2: Phỏng vấn 8 đến 10 khách và 3 đến 5 đối tác về nơi họ muốn mua và điều khiến họ bỏ đi; chọn một giả thuyết để thử.
  • Tuần 3: Chạy thử quy mô nhỏ (một quận, một nhóm điểm bán hoặc một đối tác) với giá niêm yết và quy tắc rõ ràng; theo dõi doanh số mỗi điểm, mức tuân thủ giá.
  • Tuần 4: So với chỉ tiêu đặt trước, quyết định mở rộng, chỉnh hoặc dừng; ghi bài học vào mẫu hợp đồng.

Cuối kỳ thử, hãy kiểm lại bằng ba câu hỏi: khách có đổi nhãn nếu không thấy sản phẩm không; mỗi tầng trung gian lấy bao nhiêu và làm thay bạn việc gì; nếu đối tác lớn nhất rời đi, bạn mất bao nhiêu doanh thu và bao lâu mới thay được.

Kết luận

Chiến lược phân phối là chuỗi đánh đổi có chủ đích giữa độ phủ, chi phí và kiểm soát, không phải cuộc chạy theo kênh mới nhất; điểm khởi đầu đáng tin nhất là hành vi mua của khách và kinh tế đơn vị của từng kênh. Phần 2 bàn về thiết kế và vận hành: các yếu tố cần cân nhắc, quy trình thiết kế, công nghệ, các mô hình lai như nhượng quyền đóng chai, bán thẳng cho người dùng, B2B2C, cùng phân phối nội dung.

Nguồn và phương pháp

Bài là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ AI, diễn đạt lại bằng lời riêng, không phải bản dịch. Khung khái niệm dựa trên tài liệu "Distribution Strategies & Tactics" (phần đầu, trang 1 đến 59) cùng kiến thức chung về marketing và kênh phân phối; ví dụ và số liệu Việt Nam được bổ sung từ các nguồn web dưới đây, truy cập ngày 20/10/2026. Bạn nên tìm tài liệu gốc để đọc đầy đủ.

  • [1] Thư viện Pháp luật, trang giải đáp về nhượng quyền thương mại (đăng 07/11/2023).
  • [2] Chứng khoán Phú Hưng, báo cáo phân tích lần đầu về Vinamilk (cập nhật 11/10/2022), đăng trên Vietstock.
  • [3] SHS Research, Báo cáo ngành bán lẻ (tháng 12/2025).
  • [4] Báo Pháp luật Việt Nam, bài về Honda Việt Nam tuyên dương các HEAD (27/04/2022).
  • [5] Thời báo Tài chính Việt Nam, bài về thương mại điện tử (24/02/2025).

Điều chưa kiểm chứng: số liệu của Vinamilk và Honda là số cũ (2021 đến 2022) lấy từ báo cáo phân tích và báo chí, chưa đối chiếu với báo cáo thường niên; số liệu cơ cấu bán lẻ và thương mại điện tử là tổng hợp của bên thứ ba dẫn lại tổ chức khác; ví dụ biên lợi nhuận cộng dồn là giả định minh họa; định nghĩa nhượng quyền ở Điều 284 chỉ đọc qua một trang giải đáp pháp luật [1], chưa đối chiếu toàn văn và chưa xác nhận hiệu lực hiện nay, nên cần đối chiếu bản hiện hành của Luật Thương mại.