BDSGPHẠM VĂN THƯNHÀ SÁNG LẬP BDSG
ENTài khoản
Kết nối
Menu
Siêu hướng dẫn · Nội dung có hỗ trợ AI

Đàm phán trên bàn: neo giá, nhượng bộ, chốt thỏa thuận và thực thi (Phần 2/2)

Đăng ngày 23/10/2026

Mục lục bài nghiên cứu
Ảnh đại diện bài Đàm phán trên bàn, phần 2 trong chuỗi Siêu hướng dẫn

Tóm tắt và điều cần nhớ

Phần hai khép lại loạt hai bài về đàm phán kinh doanh. Nếu phần một bàn việc chuẩn bị, phần này đi theo bốn chặng trên bàn là mở bàn, mặc cả, chốt và thực thi, kèm quyền lực, những lúc căng thẳng, khác biệt văn hóa và đàm phán trực tuyến. Xưởng A, tình huống giả định của phần một, tiếp tục làm ví dụ.

  • Con số đầu tiên thường thành điểm tựa của cả cuộc đàm phán, nhưng chỉ vững khi có lý do và chuẩn bên ngoài đi kèm.
  • Nhượng bộ cần kế hoạch: biết món nào rẻ với mình mà quý với họ, đổi theo gói, lùi một bước thì nhận lại một thứ.
  • Quyền lực đến từ phương án thay thế, thông tin, chuyên môn và quan hệ; sức ép chỉ nên dựa trên hậu quả có thật.
  • Phản đối, hung hăng và bế tắc đều gỡ bằng cách quay về lợi ích, chia nhỏ vấn đề, giữ ranh giới, biết lúc rời bàn.
  • Thỏa thuận chỉ có giá trị khi chốt rõ, thành văn bản, có người thực thi và có đường xử lý tranh chấp.
Bốn chặng đàm phán
Hình 1. Bốn chặng từ mở bàn đến thực thi.

Neo giá và định khung: con số đầu tiên và câu chuyện đi cùng

Neo giá (anchoring) là hiện tượng con số đầu tiên trên bàn kéo mọi phán đoán về phía nó. Một trang của Chương trình Đàm phán thuộc Trường Luật Harvard, đăng năm 2009 và biên soạn lại từ bài của Adam Galinsky, nêu rằng đề nghị đầu tiên có sức neo mạnh khi tình huống mơ hồ, và dẫn nghiên cứu của Galinsky cùng Mussweiler: người bán chào trước thì giá chốt thường cao hơn [1]. Trang còn viết rằng đề nghị đầu dự báo giá chốt tốt hơn các nhượng bộ về sau [1].

Ai dám chào trước? Theo trang đó, khả năng chào trước gắn với sự tự tin và cảm giác kiểm soát; ai thiếu quyền lực hoặc phương án thay thế ít chào hơn [1]. Ngoại lệ duy nhất là khi bên kia nắm nhiều thông tin hơn hẳn, như nhà tuyển dụng so với ứng viên; khi đó lời khuyên không phải ngồi chờ mà là thu thêm thông tin rồi chào trước [1]. Trang Harvard còn cho biết đề nghị đầu mạnh tay hơn thường có kết quả tốt hơn với người chào [1]. Tài liệu nguồn thì dặn neo phải tham vọng nhưng còn hợp lý, kẻo đối phương xa lánh.

Giả sử khách lớn nhất của xưởng A (giả định) gửi đề nghị gia hạn, mở ở 76 triệu đồng mỗi lô, và hai bên có xu hướng gặp nhau gần giữa các con số đầu. Nếu xưởng chỉ đáp 88, điểm giữa là 82, sát sàn 80 của xưởng; nếu đáp 94 kèm bảng chi phí nguyên liệu và công, điểm giữa là 85. Chênh 3 triệu mỗi lô đến từ con số có lý do đi kèm, không từ mặc cả khéo hơn.

Một đề nghị duy nhất chỉ để lại hai lối cho đối phương: nhận hoặc kéo giá. Cách khác là đưa nhiều gói cùng lúc, gọi là MESO (multiple equivalent simultaneous offers): các gói khác cấu trúc nhưng tương đương nhau với bên đề nghị, nên phải tính trước từng gói. Xưởng A (giả định) có thể đưa ba gói: 90 triệu, thanh toán 45 ngày, hợp đồng 12 tháng; 86 triệu, 30 ngày, 12 tháng; 84 triệu, 45 ngày, 24 tháng. Gói khách chọn cho biết họ coi trọng gì.

Định khung (framing) là chọn cách mô tả cùng một việc: nhấn lợi ích, thiệt hại có thể tránh, so sánh với phương án khác, hoặc đặt câu hỏi dẫn sự chú ý. Theo tài liệu nguồn, con người ngại mất hơn ham được, nên khung thiệt hại có sức tác động lớn; neo và khung đều phải minh bạch, công bằng, kẻo hao niềm tin. Xưởng A nên trình bày đề nghị rút kỳ hạn thanh toán xuống 45 ngày như cách giữ tiến độ giao ổn định cho khách, không phóng đại hậu quả nếu bị từ chối.

Đề nghị đơn và gói MESO
Hình 2. Một đề nghị và gói đề nghị tương đương.

Nhượng bộ: lùi có kế hoạch và luôn đổi lại

Mỗi lần nhượng bộ là một thông điệp về giới hạn của bạn, nên cần lập kế hoạch như một khoản chi. Hãy chấm từng biến theo hai trục: chi phí với mình, giá trị với họ. Món rẻ với mình mà quý với họ là quân bài đổi chác tốt nhất; món đắt với mình mà họ cũng quý chỉ nhượng khi nhận lại tương xứng; món đắt với mình mà họ ít quý thì giữ chặt; món rẻ cả hai phía có thể tặng làm thiện chí.

Có ba cách lùi có kiểm soát. Một là đổi chác và gói nhiều vấn đề, để mỗi bước lùi gắn với một bước tiến của bên kia. Hai là lùi từng bước vừa phải, vì theo tài liệu nguồn cách này khuyến khích đối phương đáp lại. Ba là thỏa thuận có điều kiện (contingent agreement), gắn nhượng bộ với một kết quả cụ thể: xưởng A (giả định) có thể giảm thêm 2 triệu mỗi lô nếu khách đặt từ 12 lô trong một quý, thay vì giảm vô điều kiện.

Tài liệu nguồn mô tả thêm ba chiêu, đáng biết để nhận ra và đáp lại. Nibbling là xin thêm món nhỏ ngay trước khi ký, tận dụng việc ai cũng muốn xong; gặp nó, hãy coi đó là một biến mới và hỏi họ đổi lại bằng gì. Flinch là phản ứng ngạc nhiên để gieo nghi ngờ về mức công bằng của đề nghị; giả vờ ngạc nhiên là một dạng đánh lừa. Hạn chót tạo sức ép, nhưng hạn chót giả làm tổn hại tính công bằng. Cả ba chỉ được mô tả, không kèm nghiên cứu.

Ma trận nhượng bộ
Hình 3. Ma trận chi phí với mình và giá trị với họ.

Quyền lực trên bàn: năm nhóm nguồn và giới hạn

Quyền lực trong đàm phán là khả năng làm đối phương đổi quyết định, rộng hơn chức danh. Tài liệu nguồn kể chín loại, từ quyền hợp pháp, phần thưởng, cưỡng chế, chuyên môn, thông tin đến uy tín cá nhân, mạng lưới, liên minh và truyền đạt thuyết phục; bài gom thành năm nhóm dùng được ngay.

  • Vị trí và chuyên môn: thẩm quyền chính thức và hiểu biết sâu làm lập luận đáng tin hơn.
  • Phần thưởng: khả năng trao điều đối phương muốn, như đơn hàng ổn định hay hợp đồng dài hơn.
  • Sức ép: nêu hậu quả nếu không có thỏa thuận; chỉ chính đáng khi hậu quả có thật và hợp pháp.
  • Thông tin: biết điều đối phương chưa biết, và chủ động chọn chia sẻ điều gì.
  • Quan hệ và liên minh: được tin cậy, có mạng lưới, đồng minh cùng lợi ích và cách trình bày thuyết phục.

Một nguồn đặc biệt bền là phương án thay thế đã xây ở phần một: như mục neo giá đã nêu, người thiếu phương án thay thế ít có xu hướng chào trước, trong khi chào trước đem lại lợi thế [1]. Quyền lực còn là điều đối phương cảm nhận được, nên phóng đại sẽ bị kiểm chứng; đe dọa thì dễ phá quan hệ cho những lần sau.

Phản đối và đối phương hung hăng: nghe trước, giữ ranh giới sau

Phản đối thường xuất phát từ mối lo, nghi ngờ hoặc hiểu lầm về điều khoản, không phải lời từ chối cuối cùng. Gom lời khuyên của tài liệu nguồn, có thể làm năm việc: hỏi để biết lý do thật; nhắc lại bằng lời mình để họ thấy được hiểu; trả lời bằng chứng cứ gắn đúng mối lo, như dữ liệu, ca tương tự hay xác nhận của bên thứ ba; đưa phương án thay thế; rồi hỏi lại xem đã đủ chưa, bước bài thêm vào để mối lo khỏi âm ỉ sang chặng sau.

Với đối phương hung hăng, mục tiêu là không để cảm xúc của họ điều khiển cuộc đàm phán. Tài liệu nguồn khuyên giữ bình tĩnh, tìm hiểu trước phong cách của họ, nói rõ chuẩn mực ứng xử mong muốn và nhắc lại điềm đạm khi bị vượt qua. Sau đó lắng nghe để tìm động cơ phía sau, kéo cuộc nói từ vị thế về lợi ích, giữ lập trường rõ ràng. Nếu kéo dài, mời bên trung gian như hòa giải viên; nếu không còn lợi ích chung, cân nhắc rời bàn.

Xưởng A (giả định) có thể gặp trưởng phòng mua hàng nâng giọng, dọa chuyển đơn sang nơi khác. Trưởng đoàn đề nghị nghỉ mười phút, quay lại hỏi điều gì nằm sau yêu cầu giảm giá, và đối chiếu với BATNA đã quy đổi: nếu mức khách đòi thấp hơn điểm dừng, rời bàn là lựa chọn hợp lý, không phải thất bại.

Gỡ bế tắc theo thang từ nhẹ đến nặng

Bế tắc xảy ra khi lợi ích xung đột, nhận định khác nhau, quyền lực lệch hoặc hai bên chưa thấy điểm chung. Tài liệu nguồn coi đó là lúc cần giải quyết vấn đề sáng tạo hơn là hồi kết. Để khỏi leo thang quá sớm, hãy đi theo thang sáu bước từ nhẹ đến nặng, bước sau chỉ dùng khi bước trước đã thử.

Bước một là quay về lợi ích: khi kẹt ở giá, hãy hỏi họ đang vướng ngân sách, ngại rủi ro nguồn hàng hay cần con số để trình cấp trên. Bước hai là chia nhỏ vấn đề, chốt phần dễ trước để tạo đà. Bước ba là mở rộng phương án: bàn ý tưởng không phán xét, chấm điểm theo vài tiêu chí hai bên nhất trí, hoặc chạy thử nhỏ, như một quý với vài lô, trước khi cam kết dài. Bước bốn là đặt mốc thời gian hợp lý, không dựng áp lực giả. Bước năm là mời bên thứ ba. Bước sáu là xét lại cả cách làm, chuyển sang liên doanh, hợp tác hay cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế.

Thang gỡ bế tắc
Hình 4. Thang gỡ bế tắc sáu bước.

Khác biệt văn hóa và đàm phán trực tuyến

Đàm phán với đối tác nước ngoài hay khác vùng miền thêm một lớp khó: cùng một lời nói, cử chỉ hay nhịp ra quyết định có thể mang nghĩa khác. Tài liệu nguồn khuyên tìm hiểu trước giá trị, phong cách giao tiếp và tập quán của đối phương, đồng thời tránh rập khuôn: điều học được chỉ giúp biết nên hỏi gì, không để đoán người trước mặt nghĩ gì. Hãy nói rõ ràng, tránh tiếng lóng, chấp nhận thời gian quyết định dài hơn, và nhờ người thông thạo văn hóa hoặc phiên dịch giỏi khi việc phức tạp.

Đàm phán trực tuyến mất bớt tín hiệu phi ngôn ngữ nên phải nói rõ hơn. Hãy thử công nghệ trước, đặt chương trình có giới hạn thời gian cho từng mục và để ý múi giờ, chia sẻ tài liệu trên màn hình, tóm tắt định kỳ để chắc hai bên hiểu như nhau, và đặt câu hỏi mở để người ít nói cũng lên tiếng. Sau buổi họp, gửi văn bản xác nhận điểm đã thống nhất; văn bản ấy có thể có sức nặng pháp lý, như mục Việt Nam bên dưới sẽ bàn.

Chốt thỏa thuận: từ cái gật đầu đến văn bản dùng được

Chốt không phải khoảnh khắc bắt tay mà là một quy trình kiểm tra, vì hiểu lầm nhỏ lúc này sẽ thành tranh chấp lớn về sau. Bài sắp xếp các việc tài liệu nguồn nêu ở chặng này thành năm việc, theo thứ tự nên làm trước khi ký.

  • Tóm tắt từng điều khoản bằng lời và xin xác nhận, để lộ ra chỗ hai bên hiểu khác nhau.
  • Hỏi còn mối lo nào chưa nói và xử lý ngay; chỉ nhận chỉnh nhỏ khi hợp lý và có giới hạn, kẻo bị xin thêm từng chút.
  • Kiểm tra cả hai bên đều thấy lợi ích cốt lõi được đáp ứng, vì thỏa thuận một bên thấy bị ép khó được thực thi tốt.
  • Ghi điều khoản, nghĩa vụ, thời hạn, cách điều chỉnh khi chi phí hay luật đổi và cách giải quyết tranh chấp vào văn bản; nhờ luật sư soát khi rủi ro lớn.
  • Xác nhận người ngoài bàn có quyền ảnh hưởng, như lãnh đạo hay tài chính, đã đồng ý, rồi lập kế hoạch thực thi: ai làm gì, khi nào.

Với xưởng A (giả định), những chỗ dễ lệch là kỳ hạn tính từ ngày nhận hàng hay ngày xuất hóa đơn, cách xử lý khi khách đặt ít hơn số lô cam kết, và ai là đầu mối nhận thông báo từ hai phía.

Sau khi ký: thực thi, quan hệ và tranh chấp

Giá trị của thỏa thuận lộ ra sau chữ ký. Việc đầu tiên là phân vai: ai chịu trách nhiệm nghĩa vụ nào, ai là đầu mối liên lạc, mốc nào cần đạt. Tiếp đó là theo dõi bằng vài chỉ số đo được, như giao đúng hạn, ngày thanh toán thực tế, số lô khách đã đặt so với cam kết. Bài gợi ý nhịp làm việc: họp khởi động trong tuần đầu, đo chỉ số hằng tháng, rà soát điều khoản và thị trường hằng quý, đánh giá lại trước hạn gia hạn. Tài liệu nguồn nhắc thỏa thuận không bất biến, cần sẵn sàng điều chỉnh khi hoàn cảnh đổi.

Giữ quan hệ là việc làm hằng ngày: giữ cam kết đúng hạn, liên lạc đều, báo sớm khi có vấn đề. Khi tranh chấp phát sinh, tài liệu nguồn xếp thứ tự: nhận diện sớm, nói chuyện cởi mở, cùng giải quyết vấn đề, mời hòa giải viên nếu chưa xong, và chỉ dùng đường pháp lý khi cần.

Nhịp theo dõi sau khi ký
Hình 5. Nhịp theo dõi một hợp đồng sau khi ký.

Tình huống áp dụng tại Việt Nam: nhượng bộ, đàm phán lại, hòa giải

Bốn dữ kiện công khai dưới đây không kể lại thương lượng nào giữa hai doanh nghiệp. Chúng chỉ cho thấy bốn bối cảnh tại Việt Nam nơi các kỹ thuật ở trên có chỗ dùng; mọi suy luận về cách dùng là của bài, các nguồn không nói vậy.

Thứ nhất là nhượng bộ có tiêu chí và trần ngân sách. Theo bài đăng ngày 5/3/2020, Vincom Retail có gói hỗ trợ dự kiến lên đến 300 tỷ đồng, phần lớn để giảm tiền thuê cho đối tác có hợp đồng thuê giá cố định bị dịch Covid-19 ảnh hưởng, tỷ lệ xét theo mức ảnh hưởng của từng vùng và ngành [2]. Một bài ngày 18/5/2020 về kế hoạch lợi nhuận của công ty nhắc việc giải ngân gói 300 tỷ đồng hỗ trợ khách thuê [3]. Hai bài không nêu tỷ lệ giảm hay thời hạn, nên người thuê cần hỏi bằng văn bản mình thuộc nhóm nào.

Thứ hai là quyền đòi đàm phán lại khi hoàn cảnh đổi. Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 cho bên có lợi ích bị ảnh hưởng quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý [4][5]. Một bài bình luận nêu các điều kiện như nguyên nhân khách quan sau khi ký, các bên không thể lường trước và thiệt hại nghiêm trọng nếu giữ nguyên hợp đồng [4]. Nếu không thỏa thuận được, có thể yêu cầu tòa án chấm dứt hoặc sửa đổi hợp đồng; trong lúc đó các bên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ, trừ khi có thỏa thuận khác [4][5]. Các tác giả nêu thêm chỗ luật chưa rõ, như thời hạn hợp lý [5] hay mức thiệt hại nghiêm trọng [4].

Thứ ba là hòa giải khi thương lượng trực tiếp bế tắc. Bài đăng ngày 29/5/2026 trên trang VCCI, theo Báo Công Thương, ghi ông Lê Hồng Hạnh, Chủ tịch VIAC, trung tâm trọng tài quốc tế của Việt Nam, cho biết năm 2025 trung tâm xử lý trên 500 vụ tranh chấp thương mại bằng trọng tài và hòa giải; bài cũng nêu Việt Nam có 17 trung tâm hòa giải thương mại và 8 trung tâm trọng tài có chức năng hòa giải [6]. Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ Tư pháp Lê Văn Tuấn nêu ưu điểm là tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian, bảo mật thông tin và duy trì quan hệ kinh doanh [6].

Về khung pháp lý, một bài năm 2017 thuật lại Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại: thỏa thuận hòa giải lập bằng văn bản, các bên được chọn hòa giải viên, và nếu hòa giải không thành thì có quyền yêu cầu trọng tài hoặc tòa án [7].

Thứ tư là thư xác nhận sau cuộc họp trực tuyến. Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 định nghĩa hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, quy định thông tin trong thông điệp dữ liệu không thể bị bác bỏ giá trị pháp lý chỉ vì hình thức điện tử, và nêu rằng đề nghị cùng chấp nhận giao kết hợp đồng điện tử được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu, trừ khi các bên thỏa thuận khác [8]. Vì vậy, thư xác nhận nên nói rõ đó là tóm tắt thảo luận hay điều khoản đã chốt, và nên hỏi luật sư khi giá trị lớn.

Cách áp dụng: bốn công cụ một trang cho cuộc đàm phán sắp tới

Phần một đưa ra hồ sơ chuẩn bị; phần này thêm bốn công cụ nhẹ, mỗi công cụ vừa một trang. Hãy thử trên một vụ đàm phán thật nhưng ít rủi ro, như gia hạn hợp đồng hoặc đổi điều kiện thanh toán, rồi sửa theo kết quả.

  • Bảng nhượng bộ: liệt kê biến đàm phán, chấm chi phí với mình và giá trị với họ, ghi mỗi món sẽ đổi lấy gì; kèm hai đến ba gói đề nghị đã tính trước.
  • Lý do của con số đầu: chọn một chuẩn bên ngoài làm chỗ dựa và viết cách giải thích bằng hai câu.
  • Nhật ký trên bàn: ghi từng nhượng bộ đã cho và nhận, mối lo đối phương nêu, việc cần xin xác nhận.
  • Trang chốt và nhịp sau ký: danh sách trước khi ký, lịch họp khởi động, đo chỉ số và rà soát.

Sau cuộc đàm phán, dành ba mươi phút trong hai ngày đầu để trả lời ba câu hỏi: đạt gì so với mục tiêu và điểm dừng, chiêu nào có tác dụng, cần sửa gì trong mẫu hồ sơ. Lưu kết quả cạnh hồ sơ phần một.

Sai lầm thường gặp, giới hạn và khi nào không nên dùng

Các kỹ thuật ở phần này dễ bị dùng như chiêu trò, và khi đó chúng phản tác dụng. Dưới đây là năm sai lầm thường xuất hiện khi người ta chuyển từ chuẩn bị sang hành động trên bàn, nên đáng đối chiếu trước mỗi cuộc gặp.

  • Neo bằng con số cực đoan không có lý do, rồi dễ mất uy tín khi bị hỏi cơ sở.
  • Nhượng bộ miễn phí, hoặc lùi lớn trước mà không đòi nhận lại gì.
  • Dùng nibbling, flinch hay hạn chót giả với đối tác cần quan hệ lâu dài.
  • Coi cái gật đầu là xong: thiếu văn bản, thiếu người chịu trách nhiệm, thiếu cơ chế điều chỉnh.
  • Leo thang sớm khi bế tắc thay vì quay về lợi ích và chia nhỏ vấn đề.

Trang Harvard về đề nghị đầu tiên không nêu số liệu cụ thể [1], và nhiều kỹ thuật trong tài liệu nguồn không kèm nghiên cứu, nên chúng là kinh nghiệm hơn là quy luật. Khi đối phương có quyền áp đặt điều khoản, giá niêm yết cố định hoặc vấn đề bị pháp luật ràng buộc, còn rất ít chỗ để neo và nhượng bộ. Với đối phương không thiện chí, mục tiêu là bảo vệ mình và rời bàn đúng lúc, không phải thắng bằng mọi giá.

Kết luận

Phần một đặt nền: người chuẩn bị tốt hơn thường có lợi thế trước khi ngồi vào bàn. Phần hai cho thấy chuẩn bị chỉ có giá trị khi thể hiện đúng lúc: con số đầu có lý do, nhượng bộ có kế hoạch, quyền lực dựa trên phương án thay thế, tình huống khó gỡ từ nhẹ đến nặng, thỏa thuận chốt thành văn bản và được theo dõi sau chữ ký. Hãy chọn một cuộc đàm phán sắp tới, dựng hồ sơ ở phần một, thêm bảng nhượng bộ và trang chốt ở phần này, rồi viết nhật ký khi kết thúc. Đàm phán giỏi lên nhờ lặp lại vòng ấy, không nhờ một mẹo.

Nguồn và phương pháp

Bài là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ AI, diễn đạt lại bằng lời riêng, không phải bản dịch. Phần nền kiến thức dựa trên tài liệu Negotiation Strategies and Techniques (Super Guide của Daniel Pereira, The Business Model Analyst, bản 2022), phần sau, trang 67 đến 128; thứ tự, bố cục, ví dụ và câu chữ đều được viết lại, các tình huống minh họa là giả định hoặc lấy từ nguồn web công khai, và các ví dụ có tên doanh nghiệp trong tài liệu gốc không được dùng lại. Bạn đọc nên tìm tài liệu gốc để đọc đầy đủ.

Các nguồn web được truy cập từ ngày 20/10/2026 đến ngày 21/10/2026 theo giờ UTC. Điều chưa kiểm chứng: Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 được đọc qua hai bài bình luận, chưa đối chiếu toàn văn và chưa xác nhận hiệu lực hiện nay, nên bài chỉ nêu các điều kiện như trong bài bình luận chứ không khẳng định danh sách đầy đủ; Nghị định 22/2017/NĐ-CP được đọc qua bài báo năm 2017, chưa đối chiếu toàn văn; Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 được đọc qua bản PDF đăng trên trang của một tỉnh, công cụ chỉ lấy phần đầu văn bản nên chưa xác nhận ngày hiệu lực.

Số liệu của VIAC và số trung tâm hòa giải lấy từ bài đăng lại, chưa đối chiếu nguồn thống kê gốc. Hai bài về gói hỗ trợ của Vincom Retail không nêu tỷ lệ giảm hay thời hạn nên bài không kết luận về tác động của gói. Trang của Chương trình Đàm phán Harvard được đọc qua công cụ tóm tắt tự động, đã đối chiếu các câu trích nguyên văn tiếng Anh theo thứ tự trang. Các con số trong ví dụ xưởng A là giả định.