Mô hình kinh doanh edtech: người dùng khác người mua và bảy cách thu tiền trong giáo dục
Đăng ngày 23/10/2026
Mục lục bài nghiên cứu

Tóm tắt và điều cần nhớ
Công nghệ giáo dục (edtech) có một đặc điểm hiếm gặp: người dùng sản phẩm thường không phải người quyết định mua, cũng không phải người trả tiền. Bài xét mô hình kinh doanh qua đúng điểm đó, gồm bảy cách thu tiền, hai ví dụ quốc tế và các tình huống tại Việt Nam.
- Chọn mô hình thu tiền thực chất là chọn người mua, kênh bán và độ dài chu kỳ bán.
- Bảy cách thu tiền phổ biến, mỗi cách có một người trả khác nhau, từ freemium tới hợp đồng tổ chức, tài trợ và quảng cáo.
- Hồ sơ của Duolingo cho thấy quảng cáo chỉ là phần nhỏ doanh thu; vụ tái cơ cấu của 2U cảnh báo tăng trưởng nhờ đại dịch, chia doanh thu cao với trường và nợ vay.
- Ở Việt Nam, số liệu thị trường chưa nói ai trả tiền; Nghị quyết 71-NQ/TW và luật dữ liệu cá nhân đổi cả nhu cầu lẫn luật chơi.
Vì sao edtech khó bán dù nhu cầu học luôn lớn
Edtech là phần mềm, thiết bị và dịch vụ số dùng để dạy, học, quản lý lớp học và cấp chứng nhận. Nhu cầu học lớn và bền, nhưng doanh thu không đi thẳng ra từ đó: học sinh dùng ứng dụng luyện đề, phụ huynh trả tiền, giáo viên giới thiệu, hiệu trưởng cho phép dùng trong lớp. Mỗi người hỏi một câu khác, nên sản phẩm được học sinh thích vẫn có thể không bán được.
Tại Việt Nam, bà Nguyễn Hồng Hạnh, nhà sáng lập kiêm giám đốc điều hành EdTech Agency, cho biết theo Sách trắng Công nghệ Giáo dục Việt Nam 2025 rằng Việt Nam nằm trong nhóm 10 nước tăng trưởng edtech nhanh nhất thế giới và nhóm 3 thị trường tiềm năng nhất Đông Nam Á [1]. Cùng bài VnEconomy ngày 17/08/2025, tác giả nêu doanh thu năm 2024 khoảng 360 triệu USD nhưng không dẫn nguồn và không nói ai trả tiền; quy mô thị trường khoảng 5 tỷ USD, hơn mười lần doanh thu, cũng không được giải thích [1]. Các số này chỉ đủ hình dung độ lớn.
Khái niệm cốt lõi: bốn vai trong một quyết định mua
Khi vẽ khách hàng của một sản phẩm edtech, nên tách bốn vai. Người dùng thao tác trực tiếp với sản phẩm. Người ảnh hưởng khiến người quyết định tin sản phẩm đáng thử, như giáo viên hay bạn học. Người quyết định, hay người gác cổng, có quyền cho phép hoặc chặn: phụ huynh, hiệu trưởng, trưởng phòng đào tạo, bộ phận công nghệ thông tin. Người trả tiền chi ngân sách. Bán hàng cho tổ chức gọi bộ vai này là trung tâm mua (buying center).
Một người có thể giữ nhiều vai: người đi làm tự học tiếng Anh vừa dùng, vừa quyết định, vừa trả. Với trẻ em, các vai gần như luôn tách rời: trẻ dùng, phụ huynh quyết định và trả. Với trường và doanh nghiệp còn tách thêm, vì người duyệt và người dùng làm việc ở hai phòng khác nhau.
Từ đó có ba nhóm khách hàng. Cá nhân (B2C) gồm người học trưởng thành và phụ huynh: mua nhanh, giá nhỏ, số lượng nhiều. Tổ chức (B2B và B2G, tức bán cho doanh nghiệp và cơ quan nhà nước) gồm trường, đại học, trung tâm, doanh nghiệp: mua chậm, hợp đồng lớn. Nhóm thứ ba là tổ chức làm kênh tới cá nhân: nhà trường đưa sản phẩm tới gia đình, gia đình trả tiền.
Người dùng quyết định sản phẩm có được dùng tiếp hay không; người trả tiền quyết định doanh nghiệp có tồn tại tiếp hay không.

Bảy cách thu tiền và người trả trong từng cách
Bảy cách dưới đây không loại trừ nhau; nhiều doanh nghiệp chạy hai hoặc ba cách cùng lúc. Với mỗi cách, cần biết ai đưa tiền, vào lúc nào và dựa trên hành vi nào của người dùng. Thứ tự đi từ người học tự trả tới người trả đứng xa sản phẩm.
- Freemium hoặc dùng thử: phần cơ bản miễn phí hoặc dùng thử có hạn, trả để mở thêm. Người trả: người học hoặc phụ huynh.
- Thuê bao hoặc trả theo lần: thuê bao hợp sản phẩm dùng đều, trả theo lần hợp nhu cầu rải rác như một kỳ thi; người trả như trên.
- Hợp đồng tổ chức (từ trên xuống): bán cho sở, trường, đại học hay doanh nghiệp theo hợp đồng nhiều người dùng; người trả là ngân sách tổ chức.
- Từ lớp học ra gia đình (từ dưới lên): trường và giáo viên dùng miễn phí, gia đình trả để dùng thêm ở nhà; trường là kênh tạo khách, không phải người trả.
- Tài trợ: nhà tài trợ hoặc quỹ trả để người học dùng miễn phí; nguồn thu đi theo mục tiêu của họ.
- Sàn giao dịch: người dạy đăng khoá học, nền tảng thu hoa hồng mỗi giao dịch; giá do người dạy đặt.
- Quảng cáo: nhà quảng cáo trả, người học trả bằng sự chú ý và dữ liệu; thường kèm gói thuê bao để gỡ quảng cáo.
Có hai điểm chung. Người trả càng xa người dùng thì sản phẩm càng phải chứng minh giá trị bằng thứ người trả quan tâm: kết quả học tập, thời gian giáo viên tiết kiệm, mức độ tuân thủ quy định. Ba cách cuối làm doanh thu phụ thuộc bên thứ ba, nên dữ liệu và niềm tin của người học là rủi ro kinh doanh, không chỉ rủi ro kỹ thuật.
Bán cho người học: freemium, thuê bao và bài toán chuyển đổi
Khi người học hoặc phụ huynh là người trả, sản phẩm phải tự bán mình ngay trong vài phút đầu. Freemium vì thế vừa là cách thu tiền vừa là kênh tiếp thị: phần miễn phí kéo người dùng vào, phần trả phí giữ người thật sự cần. Phần miễn phí phải đủ giá trị để tạo thói quen nhưng không đủ để người dùng thấy không cần nâng cấp.
Cái giá là khoản tiền bỏ ra để phục vụ người dùng chưa trả phí: máy chủ, nội dung, hỗ trợ. Vì vậy cần đặt tỷ lệ chuyển đổi, tức phần người dùng chuyển sang trả phí, cạnh chi phí phục vụ mỗi người miễn phí; ví dụ giả định nằm ở mục chọn mô hình. Bán cho phụ huynh cần hai thông điệp: một để trẻ muốn mở ứng dụng, một để phụ huynh thấy tiến độ và tiền được dùng đúng chỗ.
Bán cho tổ chức: hợp đồng từ trên xuống và cái giá của chu kỳ dài
Bán cho tổ chức bắt đầu bằng ước lượng thị trường và mục tiêu thị phần, rồi đội bán hàng tìm hợp đồng bao trùm nhiều trường cùng lúc, như một sở hay một hệ thống trường. Phần thưởng là một chữ ký đem về nhiều người dùng, nhưng mỗi chữ ký đòi thử nghiệm, so sánh đối thủ, rà soát bảo mật và cam kết hỗ trợ; vốn phải chịu được nhiều tháng chưa có doanh thu.
Người mua và người dùng cách nhau một khoảng, gọi là khoảng cách áp dụng. Ban giám hiệu mua vì ngân sách, uy tín hay yêu cầu quản lý, còn giáo viên mới dùng mỗi ngày; nhiều giáo viên quen sách và bảng, nên giấy phép đã mua có thể nằm không. Vì thế tỷ lệ thật sự dùng sản phẩm là chỉ báo gia hạn đáng tin hơn số hợp đồng đã ký. Bán cho tổ chức cũng là bán niềm tin, vì nhà trường giao dữ liệu học sinh cho nhà cung cấp.
Kênh từ lớp học ra gia đình: giáo viên làm cửa vào
Kênh từ dưới lên đảo thứ tự bán. Trường và giáo viên dùng miễn phí; học sinh dùng trong lớp; phụ huynh thấy con học và trả tiền để dùng thêm ở nhà, hoặc nhà trường mua gói nâng cấp. Cách này hiệu quả vì giáo viên là người ảnh hưởng đáng tin và trường luôn tìm công cụ tốt không tốn tiền, nên chi phí có khách thấp hơn quảng cáo thẳng tới phụ huynh.
Cái giá nằm ở hai chỗ. Phần miễn phí cho trường phải đủ dùng, còn phần trả phí ở nhà phải đáng tiền và đủ bù chi phí của cả phần miễn phí; nếu ít người chịu trả mà chi phí máy chủ, hỗ trợ vẫn chạy thì vòng lặp trong hình dưới không bền. Ngoài ra là công bằng: học sinh có điều kiện ở nhà được học nhiều hơn, và nhà trường có thể ngại gắn tên mình với việc thu tiền gia đình. Nhiều đội chọn mô hình lai: miễn phí cho lớp, trả phí cho gia đình, hợp đồng cấp trường cho tính năng quản lý.

Chọn mô hình thu tiền: bốn câu hỏi, phép tính dòng tiền và nguồn vốn
Có bốn câu hỏi để khoanh vùng lựa chọn. Khách hàng là ai và quyết định mua ra sao: cá nhân, trường tư, trường công hay doanh nghiệp. Khách ở đâu, vì thói quen, thuế và kênh thanh toán khác nhau giữa các nơi. Sản phẩm dùng đều hay rải rác. Doanh nghiệp đang tìm khách, nghiêng về freemium hoặc trả theo lần, hay đang giữ khách, nghiêng về thuê bao.
Sau đó cần một phép tính đơn giản trước khi dựng thứ gì lớn. Ví dụ giả định, không thuộc doanh nghiệp nào: cứ 20 người dùng miễn phí thì có 1 người trả; người đó trả 12 đơn vị tiền mỗi năm; mỗi người dùng miễn phí tốn 1 đơn vị mỗi năm để phục vụ. Khi đó 20 người tốn 20 đơn vị mà chỉ thu 12, lỗ ngay trước chi phí tiếp thị. Nếu tỷ lệ trả là 1 trên 10 thì cùng 20 người thu 24 so với chi 20. Tỷ lệ chuyển đổi một mình đã phân biệt mô hình sống với mô hình cạn tiền.
Dòng tiền nên lập theo ba kịch bản, nhất là kịch bản xấu nhất, với hai khái niệm quen thuộc của nhà đầu tư: tốc độ đốt tiền (burn rate, số tiền chi mỗi tháng) và quãng đường tiền còn lại (runway, số tháng còn sống với tiền hiện có). Khi bán cho tổ chức, nên giả định hợp đồng chậm một đến hai quý. Nguồn vốn cũng cần khớp mô hình: nhà đầu tư thiên thần và quỹ mạo hiểm đổi rủi ro lấy cổ phần và tăng trưởng nhanh, hợp với ứng dụng tiêu dùng nhân rộng được; bán cho tổ chức có chu kỳ dài hợp hơn với tài trợ của quỹ, doanh nghiệp hay chính phủ, hoặc chương trình ươm tạo.

Cách áp dụng từng bước
Quy trình dưới đây dùng cho sản phẩm edtech mới hoặc sản phẩm cũ đang bí đường tăng doanh thu. Nó đi từ bản đồ người mua qua thử trả tiền sớm tới ngân sách, và coi người làm giáo dục là một phần của đội.
- Bước 1: Lập bản đồ bốn vai cho từng nhóm khách, ghi chức danh cụ thể và gặp ít nhất ba người thật cho mỗi vai, gồm cả giáo viên.
- Bước 2: Chọn một cặp người dùng và người trả để phục vụ trước, rồi phỏng vấn người trả về ngân sách, người duyệt, thời điểm chi và thứ họ coi là bằng chứng hiệu quả.
- Bước 3: Dựng bản mẫu chỉ đủ chứng minh một lợi ích người trả quan tâm, kèm tính năng chạm tới tiền và niềm tin: thanh toán, huỷ dễ, thống kê tiến độ.
- Bước 4: Xin cam kết trả tiền sớm, như đặt cọc hoặc hợp đồng thí điểm có phí; sự quan tâm miễn phí chưa phải bằng chứng.
- Bước 5: Chọn chỉ số theo mô hình: cá nhân thì giữ chân, chuyển đổi; tổ chức thì thời gian chốt hợp đồng, tỷ lệ dùng thật, gia hạn.
- Bước 6: Lập ngân sách ba kịch bản, đặt quy tắc dữ liệu (thu gì, giữ bao lâu, xin và rút đồng ý thế nào), rồi chọn nguồn vốn.
Hai ví dụ quốc tế: Duolingo và 2U
Hồ sơ thường niên 10-K năm 2024 của Duolingo, nộp cho Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC), mô tả đúng cấu trúc freemium: người học miễn phí thấy một quảng cáo sau mỗi bài, người mua thuê bao không có quảng cáo và có thêm tính năng. Đến ngày 31/12/2024 công ty có hơn 100 triệu người dùng hằng tháng, khoảng 9% trong số đó trả phí, và khoảng 7,3% tổng doanh thu năm 2024 đến từ quảng cáo [2].
Hồ sơ còn cho thấy ai đứng giữa người trả và doanh nghiệp: trong 12 tháng đến 31/12/2024, Duolingo lấy 61% doanh thu từ App Store của Apple và 20% từ Google Play, tức khoảng 81% đi qua hai cửa hàng ứng dụng (tổng này do bài tự cộng) [2]. Người học là người trả, nhưng cửa thu tiền thuộc bên thứ ba.
Ở phía bán cho tổ chức, 2U là công ty quản lý chương trình trực tuyến (OPM) cho đại học. Theo Higher Ed Dive ngày 11/09/2024, OPM bỏ vốn, đảm nhận công nghệ và dịch vụ như tiếp thị để nhận một phần doanh thu, thường quanh 60%; phóng viên không nêu nguồn tỷ lệ này [3]. Bài thuật lại rằng sau đà tăng trưởng nhanh thời đại dịch, tình hình 2U xấu đi: thương vụ edX năm 2021 trị giá 800 triệu USD làm tăng gánh nợ, và một số quan hệ với trường, gồm một đối tác chủ chốt, bị thu hẹp hoặc chấm dứt [3]. Kế hoạch Chapter 11 được một thẩm phán tòa phá sản liên bang chấp thuận, quy khoảng 527 triệu USD nợ thành quyền sở hữu công ty [3].
Ba rủi ro đi cùng nhau: tăng trưởng nhờ một cú hích tạm thời, tỷ lệ chia lớn để lại ít chỗ cho biên lợi nhuận, và đòn bẩy nợ. Khi người mua là vài đối tác lớn, mất một đối tác chủ chốt cũng làm doanh thu giảm mạnh. Đây là cách ghép của bài, không gán cho bên liên quan nào.
Tình huống áp dụng tại Việt Nam
The Investor ngày 14/09/2023 đưa tin ELSA, startup đặt trụ sở ở Thung lũng Silicon, do một chuyên gia người Việt Nam về ngôn ngữ và giáo dục sáng lập, huy động 23 triệu USD vòng Series C, sau các vòng 3,2 triệu USD năm 2018, 7 triệu USD năm 2019 và 15 triệu USD năm 2021 [4]. Bài nêu vốn mới sẽ giúp mở rộng ứng dụng ELSA Speak ra thị trường quốc tế và đẩy nhanh việc bắt tay với các công ty và trường học tại những nước như Nhật Bản [4]. Bài không mô tả cách ELSA thu tiền, nên bước sang người mua tổ chức chỉ là suy luận của bài.
Với vnEdu Connect, bài đăng trên Tuổi Trẻ ngày 23/04/2025 mang tên tác giả VNPT - T.D.V nên có tính quảng bá. Bài thuật lời đại diện VNPT rằng hơn 5 triệu phụ huynh dùng ứng dụng mỗi ngày, giúp giảm tới 30% thời gian giao tiếp giữa giáo viên và phụ huynh so với cách truyền thống; đây là số do công ty cung cấp, bài không kiểm chứng [5]. Theo bài, ứng dụng có thêm phân hệ hỗ trợ nhà trường và kế toán, nên một nền tảng phục vụ cả giáo viên, phụ huynh lẫn bộ phận quản lý [5]. Bài không nói ai chọn và ai trả phí; đó là điều phải hỏi trực tiếp nhà trường.
Ở tầng chính sách, Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, theo bản tóm tắt của LuatVietnam đăng ngày 28/08/2025, nêu nền tảng giáo dục quốc gia ứng dụng AI có kiểm soát; chuẩn năng lực số và AI đưa vào chương trình; tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư và hợp tác công - tư [6]. Với edtech tại Việt Nam, đó có thể là nhu cầu mới về ngoại ngữ và kỹ năng số, nhưng cũng có thể là nền tảng dùng chung thay công cụ cơ bản; đây là cách đọc của bài. Trang không ghi ngày ban hành, chưa đối chiếu toàn văn.
Về dữ liệu, trang LSVN đăng ngày 20/08/2025 trích một phần Luật số 91/2025/QH15, đạo luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, và nêu ngày áp dụng là 01/01/2026 [7]. Phần trích nêu người đại diện theo pháp luật thực hiện quyền của chủ thể dữ liệu thay trẻ em; trẻ từ đủ 7 tuổi, trong một số trường hợp, cần cả sự đồng ý của trẻ lẫn người đại diện; còn dữ liệu cá nhân của khách chỉ được xử lý nhằm kinh doanh dịch vụ quảng cáo khi khách đồng ý [7]. Sản phẩm nhắm tới trẻ em nên thiết kế sẵn cơ chế xin và rút đồng ý từ đầu. Trang chỉ trích một phần nên bài chưa đối chiếu toàn văn, chưa kiểm tra hiệu lực hiện hành và không thay cho tư vấn pháp lý.

Sai lầm thường gặp, giới hạn và khi nào không nên dùng
Bốn sai lầm sau lặp lại ở các sản phẩm edtech có nhiều người dùng nhưng ít doanh thu. Mỗi sai lầm có thể kiểm tra từ sớm, trước khi tốn nhiều tiền, bằng các bước và kế hoạch thử nghiệm nêu trong bài.
- Bắt đầu từ công nghệ thay vì từ người trả: thực tế ảo, AI hội thoại, học thích ứng hay chuỗi khối chỉ có giá khi gắn với một người mua cụ thể.
- Nhầm lượt dùng với doanh thu: nhiều người dùng miễn phí chưa bảo đảm có người trả.
- Phụ thuộc một kênh hay một đối tác: cửa hàng ứng dụng, một sở giáo dục, một trường lớn.
- Xem nhẹ dữ liệu và niềm tin ở sản phẩm cho trẻ em, hoặc hứa hiệu quả học tập khi chưa có dữ liệu chứng minh.
Khung bốn vai có giới hạn: với sản phẩm cho người đi làm tự học, nơi bốn vai gộp thành một, bản đồ vai là thừa và thứ cần đo là chuyển đổi, giữ chân. Nhiều số liệu trong bài chưa kiểm toán, nên kết luận chỉ là giả thuyết cần thử trên thị trường của bạn.
Kế hoạch thử nghiệm bốn tuần và câu hỏi tự kiểm
Kế hoạch bốn tuần dành cho nhóm nhỏ muốn biết, trước khi dựng sản phẩm hoàn chỉnh, liệu có người sẵn lòng trả tiền hay không. Mỗi tuần có một đầu ra kiểm tra được, để cuối tháng quyết định tiếp tục, đổi người trả hoặc dừng.
- Tuần 1: Lập bản đồ bốn vai và phỏng vấn ít nhất năm người trả tiền tiềm năng về ngân sách, người duyệt, thời điểm chi.
- Tuần 2: Đưa mức giá và một cam kết (đặt cọc, thư cam kết, hợp đồng thí điểm) cho từng người; ghi ai đồng ý, ai từ chối và lý do.
- Tuần 3: Chạy thử với nhóm nhỏ, đo mức dùng thật (số người quay lại, số bài hoàn thành), không đo số lượt đăng ký.
- Tuần 4: Tính lại tỷ lệ chuyển đổi và chi phí phục vụ, rồi họp quyết định theo ngưỡng đặt từ trước.
Hình dưới gom câu hỏi tự kiểm thành ba nhóm. Nếu nhóm người trả tiền còn nhiều câu trả lời chưa biết thì chưa nên thêm tính năng; nếu nhóm dữ liệu và niềm tin chưa có câu trả lời thì chưa nên mở cho người học nhỏ tuổi.

Kết luận
Edtech không thiếu nhu cầu mà thường thiếu sự khớp giữa người được lợi và người trả tiền. Mô hình thu tiền đúng là mô hình khớp hai phía đó ở một kênh bán và chu kỳ bán mà doanh nghiệp chịu nổi. Duolingo cho thấy sức mạnh của chuyển đổi từ phần miễn phí, 2U cho thấy cái giá của phụ thuộc và nợ, còn các tình huống Việt Nam cho thấy thông tin công khai nói được quy mô và luật chơi nhưng chưa nói dòng tiền.
Nguồn và phương pháp
Bài là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ AI, được diễn đạt lại bằng lời riêng, không phải bản dịch. Khung kiến thức dựa trên tài liệu "EdTech Business Model" (Super Guide, tệp EdTech Business Model q5nnpi, trang 1–74); cách tổ chức quanh bốn vai người dùng, người ảnh hưởng, người quyết định và người trả tiền, phép tính chuyển đổi giả định và các nhận định do bài tự xây dựng, còn ví dụ lấy từ các nguồn web bên dưới. Số liệu thị trường toàn cầu trong tài liệu gốc đã cũ nên không dùng. Khuyến khích người đọc tìm tài liệu gốc để đọc đầy đủ.
Các nguồn web đánh số từ [1] đến [7] được truy cập ngày 20/10/2026 và 21/10/2026: [1] VnEconomy, 17/08/2025; [2] Duolingo, Inc., báo cáo 10-K năm 2024 trên trang của SEC; [3] Higher Ed Dive, 11/09/2024; [4] The Investor, 14/09/2023; [5] Tuổi Trẻ Online, 23/04/2025 (bài mang tên tác giả VNPT - T.D.V); [6] LuatVietnam, 28/08/2025; [7] LSVN, 20/08/2025.
Điều chưa kiểm chứng: số liệu thị trường Việt Nam của VnEconomy không dẫn nguồn, hai con số quy mô và doanh thu chênh nhau hơn mười lần và Sách trắng không nêu tác giả; hồ sơ 10-K của Duolingo mới đọc phần đầu; tỷ lệ chia doanh thu khoảng 60% của OPM là lời phóng viên, không nêu nguồn; số liệu vnEdu Connect do VNPT cung cấp trong một bài mang tính quảng bá; Nghị quyết 71-NQ/TW và Luật 91/2025/QH15 chỉ đọc qua bản tóm tắt và trích đoạn, chưa đối chiếu toàn văn, chưa xác nhận hiệu lực hiện nay; phép tính chuyển đổi là giả định minh hoạ.