BDSGPHẠM VĂN THƯNHÀ SÁNG LẬP BDSG
ENTài khoản
Kết nối
Menu
Mô hình kinh doanh · Nội dung có hỗ trợ AI

Hợp tác chiến lược: khai thác giá trị, đo lường hiệu quả và thoát ra có trật tự (Phần 2/2)

Đăng ngày 23/10/2026

Mục lục bài nghiên cứu
Ảnh đại diện bài hợp tác chiến lược, phần 2: khai thác giá trị, đo lường và thoát ra có trật tự

Tóm tắt và điều cần nhớ

Phần này là phần hai và cũng là phần cuối của chuỗi về hợp tác chiến lược. Phần một đi từ quyết định có cần đối tác đến ký thoả thuận; phần này bắt đầu từ bản thoả thuận đã ký và hỏi giá trị đến từ đâu, đo bằng gì, chỉnh thế nào khi hai bên lệch nhịp, rút lui ra sao.

  • Giá trị hợp tác chảy qua ba cần gạt: công nghệ, thị trường và chi phí; mỗi cần gạt cần người phụ trách, điều khoản và chỉ số riêng.
  • Chuyển giao công nghệ chỉ có lợi khi phạm vi sử dụng, bảo mật và quyền với cải tiến được chốt trước lúc bàn giao.
  • Hãy đo bằng bộ chỉ số cân bằng giữa tài chính, khách hàng, vận hành và quan hệ, so với mốc gốc ghi từ đầu.
  • Lệch hướng là chuyện thường; nhịp rà soát và điều khoản điều chỉnh giúp sửa sớm.
  • Lối ra nên viết khi quan hệ còn tốt, gồm cách chia dữ liệu, tài sản, khách hàng và nhân sự.

Vì sao giá trị thất thoát sau khi ký thoả thuận

Ký xong, nhiều doanh nghiệp coi như việc khó nhất đã qua, trong khi giá trị mới chỉ được hứa. Thoả thuận cho biết ai làm gì và chia gì, nhưng không tự biến cơ hội thành doanh thu hay khoản tiết kiệm. Giá trị thường thất thoát ở ba chỗ: không ai chịu trách nhiệm khai thác, không có mốc gốc để biết quan hệ đang giúp hay không, và hai bên đi hai nhịp khác nhau mà không ai gọi tên.

Nguyên nhân thường nằm ở động lực: nhân viên tuyến đầu vẫn được đánh giá theo chỉ tiêu của bên mình, nên việc chung không có chỉ tiêu và người nhận sẽ bị xếp sau việc riêng. Vì vậy phần này đi qua ba cần gạt tạo giá trị, rồi ba việc giữ giá trị là đo, chỉnh và thoát.

Ba cần gạt khai thác giá trị và các thuật ngữ chính

Cần gạt công nghệ gồm cấp phép và chuyển giao tri thức, giải pháp. Cần gạt thị trường gồm bán chung, tiếp thị chung và đi vào địa bàn hay nhóm khách mới. Cần gạt chi phí gồm dùng chung dịch vụ, hạ tầng và mua hàng. Nên kéo cần gạt nào trước tuỳ điều đang thiếu: thiếu năng lực thì công nghệ, thiếu khách thì thị trường, biên lợi nhuận mỏng thì chi phí. Đi kèm là ba việc giữ giá trị: đo lường, điều chỉnh, lối ra. Cách chia như vậy là sắp xếp riêng của bài, không phải một chuẩn ngành.

Chuyển giao công nghệ (technology transfer) là chia sẻ tri thức hay giải pháp từ bên này sang bên kia, qua cấp phép (licensing), liên doanh hoặc nghiên cứu chung; tiền bản quyền (royalty) là khoản trả định kỳ cho quyền sử dụng. Bán chéo (cross-selling) là bán thêm sản phẩm bổ sung cho khách sẵn có, bán nâng cấp (upselling) là bán bản cao hơn. Mốc gốc (baseline) là số đo trước khi hợp tác bắt đầu.

Sơ đồ giá trị hợp tác và sáu nhánh
Hình 1. Ba cần gạt và ba việc giữ giá trị (minh hoạ khái niệm).

Cấp phép và chuyển giao công nghệ: lấy giá trị, giữ bí quyết

Với bên có công nghệ, cấp phép biến tài sản trí tuệ thành dòng tiền và mở rộng độ phủ mà không phải tự dựng kênh bán. Với bên nhận, đây là đường tắt tới giải pháp hay chuyên môn mà tự phát triển sẽ mất nhiều thời gian, lại chia bớt rủi ro thất bại của dự án.

Ba quyết định định hình chất lượng thoả thuận cấp phép. Phạm vi: độc quyền hay không, địa bàn, lĩnh vực, thời hạn. Giá: phí một lần, tiền bản quyền theo doanh thu hoặc thanh toán theo mốc, tốt nhất gắn với kết quả bên nhận đạt được. Kiểm soát: ai sở hữu cải tiến phát sinh, chuẩn chất lượng phải giữ, quyền kiểm tra khi cần. Cả ba phải khớp với điều khoản sở hữu trí tuệ, bảo mật và dữ liệu đã bàn ở phần một.

Chuyển giao thất bại thường vì bên nhận không hấp thụ được hơn là vì bên cấp giấu nghề. Hãy chỉ định người học ở bên nhận, bàn giao theo giai đoạn kèm đào tạo và kiểm tra đầu ra từng giai đoạn. Bên cấp nên tách lớp thông tin: phần vận hành chia sẻ ngay, phần lõi chỉ mở khi đã đạt mốc.

Bán chung, tiếp thị chung và đi vào thị trường mới

Hợp tác về thị trường có bốn bậc cam kết, từ nhẹ đến sâu. Bậc một là giới thiệu khách, dễ làm và dễ đo nếu có mã theo dõi. Bậc hai là tiếp thị chung: nội dung chung, chiến dịch đồng thương hiệu (co-branding), sự kiện và chia sẻ số liệu phân tích. Bậc ba là bán chéo và bán nâng cấp bằng gói kết hợp. Bậc bốn là đội bán hàng chung, được đào tạo để bán cả hai bên.

Ba điều kiện giúp các bậc này chạy ổn: mỗi chiến dịch có một đầu mối, vì việc chung không ai nhận thì không ai làm; có quy tắc về hồ sơ khách, gồm ai được liên hệ, ai giữ dữ liệu, khách đã đồng ý điều gì; có bảng số liệu chung, xem hằng tuần. Ở bậc bốn, nhân viên hai bên còn phải hiểu sản phẩm của nhau để khách không nhận hai thông điệp mâu thuẫn.

Khi vào thị trường mới, đối tác địa phương thường rút ngắn thời gian hơn là bớt vốn. Trình tự hợp lý: nghiên cứu thị trường, chọn đối tác hiểu địa phương và có mạng phân phối, chọn hình thức vào (xuất khẩu, cấp phép, nhượng quyền, liên doanh hay công ty sở hữu toàn bộ), rà soát tuân thủ, bản địa hoá thương hiệu, rồi mới tới phân phối và theo dõi chỉ số. Ra nước ngoài cần thêm bảo vệ sở hữu trí tuệ và phương án dự phòng. Cái giá là quyền kiểm soát khách hàng, nên hãy chốt từ đầu ai nắm dữ liệu khách.

Bốn bậc hợp tác bán hàng xếp chồng
Hình 2. Bốn bậc cam kết trong hợp tác bán hàng (minh hoạ khái niệm).

Dùng chung nguồn lực để giảm chi phí mà không mất kiểm soát

Giảm chi phí nhờ hợp tác không chỉ là cắt giảm mà là sắp lại cách làm. Có ba nhóm. Gộp quy trình và hệ thống: thống nhất chuẩn làm việc, tích hợp phần mềm, bỏ khâu trùng lặp. Dịch vụ và hạ tầng dùng chung: trung tâm dịch vụ chung cho kế toán hay chăm sóc khách, chung kho, xưởng hoặc máy chủ đám mây, thuê ngoài việc không cốt lõi. Mua sắm và chuỗi cung ứng: mua chung để có giá tốt, gộp kho phân phối, dự báo nhu cầu chung để tránh tồn kho hoặc thiếu hàng.

Dùng chung hợp khi chi phí cố định lớn mà mỗi bên chỉ dùng một phần, như kho bãi, máy chủ hay đội hỗ trợ kỹ thuật; không hợp khi chạm vào thứ tạo khác biệt với khách. Ba quy tắc tránh tranh cãi: đo mức dùng thực, chia chi phí theo mức dùng và ký mức dịch vụ tối thiểu. Nếu hai bên là đối thủ, mua chung chỉ nên bàn về đầu vào; trao đổi giá bán hay chia địa bàn bán rơi vào vùng rủi ro cạnh tranh đã nêu ở phần một.

Đo lường hợp tác: chỉ số, mốc gốc và cách tính ROI

Chỉ số bắt đầu từ mục tiêu: vào thị trường mới thì đo thị phần, doanh thu và số khách mới ở địa bàn; giảm chi phí thì đo chi phí đơn vị. Mỗi chỉ số cần mốc gốc ghi trước khi bắt đầu, nguồn dữ liệu, tần suất thu, người chịu trách nhiệm, và nên so với chuẩn ngành hoặc đối thủ nếu có. Hãy xét cả tài chính, khách hàng, nhân viên lẫn năng lực đổi mới.

ROI (return on investment, tức tỷ suất hoàn vốn) bằng lợi ích tăng thêm quy được cho hợp tác, trừ vốn bỏ ra, rồi chia cho vốn bỏ ra. Phần khó là chữ “quy được”: hãy gắn mã theo dõi cho khách do đối tác giới thiệu và so với cùng kỳ năm trước. Phân tích chi phí và lợi ích (cost-benefit analysis, CBA) mở rộng phép tính: chi phí trực tiếp là phí đối tác, tích hợp, cam kết hợp đồng; chi phí gián tiếp là thời gian quản lý và đào tạo; lợi ích gián tiếp như uy tín và lòng trung thành thì ghi như bằng chứng định tính.

Ví dụ giả định, đơn vị triệu đồng: lập quan hệ tốn bốn mươi cho pháp lý, tích hợp và đào tạo; sáu tháng đầu, chi phí duy trì thêm mười; lợi ích tăng thêm quy được cho hợp tác là sáu mươi. Chỉ tính vốn ban đầu thì ROI là 0,5; tính cả chi phí duy trì thì còn 0,2. Vì thế nên đưa chi phí duy trì vào mẫu số và xem thời gian hoàn vốn cùng ROI.

Ba chỉ số khách hàng thường đi cùng: CLV (viết tắt của customer lifetime value, tức giá trị ước tính của một khách trong cả vòng đời mua hàng), CAC (customer acquisition cost, chi phí để có một khách mới) và NPS (Net Promoter Score, chỉ số giới thiệu ròng, đo xem khách có muốn giới thiệu bạn cho người khác). Hợp tác tốt nên kéo CLV và NPS lên, kéo CAC xuống.

Đừng để một chỉ số quyết định tất cả: ROI cao có thể che một quan hệ đang xấu đi. Cân bằng nghĩa là có chỉ số dẫn trước, như số buổi làm việc chung hay số khách đã kích hoạt, lẫn chỉ số kết quả như doanh thu và chi phí, cộng một khảo sát ngắn về chất lượng quan hệ giữa hai bên.

Bốn nhóm chỉ số theo dõi hợp tác
Hình 3. Bộ chỉ số cân bằng theo bốn nhóm (minh hoạ khái niệm).

Thích nghi khi hai bên lệch nhịp

Thị trường, công nghệ và quy định đổi, mục tiêu của chính hai bên cũng đổi, nên hợp tác không thích nghi sẽ lỗi thời dù không ai làm sai. Có bốn công cụ: nhịp rà soát định kỳ; hợp đồng có độ mềm, cho tăng giảm quy mô hoặc đổi điều khoản tài chính mà không ký lại từ đầu; kịch bản dự phòng; và một khoản nhỏ cho đổi mới chung. Theo dõi tốc độ thay đổi, mức hài lòng của khách trong lúc đổi và mức khớp chiến lược, rồi ghi bài học cho vòng sau.

Lệch hướng có ba dạng: mục tiêu khác nhau, ưu tiên khác nhau (một bên coi trọng tiết kiệm, bên kia coi trọng chất lượng) và kỳ vọng khác nhau về thời gian, nguồn lực, kết quả. Thuốc chữa đơn giản nhưng phải làm đều: mục tiêu theo tiêu chí SMART do hai bên cùng ký, họp ngắn định kỳ, quyết định lớn cùng nhau, quy trình xử lý bất đồng có người chịu trách nhiệm và thời hạn. Bài đề xuất thêm việc liệt kê trước các sự kiện kích hoạt đàm phán lại, như đổi luật, đổi chủ sở hữu của đối tác hay hụt chỉ tiêu hai kỳ liên tiếp.

Khác biệt văn hoá và cách giao tiếp làm lệch hướng âm thầm nhất, nhất là với đối tác nước ngoài: cách ra quyết định, mức nói thẳng, ngôn ngữ, giờ giấc. Cách xử lý thực dụng là đặt một người nối giữa hai bên, thống nhất quy tắc giao tiếp bằng văn bản (kênh nào cho việc gì, trả lời trong bao lâu) và lập nhóm làm việc chung, họp video để thấy phản ứng của nhau.

Vòng điều chỉnh hợp tác theo chu kỳ
Hình 4. Vòng điều chỉnh định kỳ (minh hoạ quy trình).

Thoát ra có trật tự khi hợp tác kết thúc

Không hợp tác nào vĩnh viễn, và chấm dứt không đồng nghĩa thất bại: có khi mục tiêu đã đạt, có khi môi trường đổi đến mức hợp tác hết ý nghĩa. Điều gây tổn hại là chấm dứt lộn xộn. Bốn chỗ hay vướng là thủ tục pháp lý, việc tách dữ liệu và tài sản trí tuệ đã gắn chặt, uy tín của bên chấm dứt, và việc chuyển khách hàng, nhân viên mà không gây gián đoạn.

Kế hoạch thoát ra tốt được viết sẵn từ lúc ký, gồm điều kiện, thời hạn báo trước, trách nhiệm và hậu quả. Khi đã bất đồng, nhờ bên trung gian hoà giải thường đỡ tốn kém và đỡ căng thẳng hơn kiện. Khi chấm dứt, cần thoả thuận cách chia dữ liệu và tài sản, kế hoạch chuyển khách (báo sớm, dịch vụ liên tục), phương án cho nhân sự và giữ cư xử chuyên nghiệp; luật sư nên xem trước khi gửi thông báo. Sau cùng là đánh giá: điều khoản nào thiếu, tín hiệu nào đã báo sớm mà bị bỏ qua.

Lộ trình thoát ra có trật tự theo năm mốc
Hình 5. Lộ trình thoát ra có trật tự (minh hoạ quy trình).

Cách áp dụng từng bước

Tám bước dưới đây áp dụng cho quan hệ đã ký hay sắp ký, và vẫn làm được ở quy mô một doanh nghiệp nhỏ. Hãy chốt mỗi bước bằng một tài liệu ngắn, để người mới vào vẫn hiểu vì sao việc được làm như vậy.

  • Bước 1: Chọn một cần gạt chính (công nghệ, thị trường hoặc chi phí) và viết mục tiêu đo được cho nó.
  • Bước 2: Trước khi bắt đầu, ghi mốc gốc của từng chỉ số, số liệu lấy từ đâu và ai phụ trách.
  • Bước 3: Chốt điều khoản của cần gạt đó: phạm vi cấp phép, quy tắc dữ liệu khách hoặc cách chia chi phí chung.
  • Bước 4: Chọn ba đến sáu chỉ số cân bằng, có cả chỉ số dẫn trước, rồi dựng bảng số liệu chung.
  • Bước 5: Đặt nhịp rà soát: hằng tháng ở cấp làm việc, hằng quý ở cấp lãnh đạo.
  • Bước 6: Liệt kê sự kiện kích hoạt đàm phán lại và điều khoản được phép điều chỉnh.
  • Bước 7: Viết sẵn kế hoạch thoát ra: báo trước, chia dữ liệu và tài sản, chuyển khách và nhân sự.
  • Bước 8: Sau chín mươi ngày, tính ROI có cả chi phí duy trì, rồi chọn một trong ba hướng: tiếp tục, chỉnh lại hoặc dừng.

Ví dụ quốc tế: Renault và Nissan cân bằng lại liên minh

Renault và Nissan cho thấy một liên minh 24 năm vẫn có thể được cân bằng lại bằng điều khoản thay vì tan ra. Theo thông cáo chung ngày 6/2/2023 trên trang tin của Renault Group, hai bên thống nhất cân bằng lại sở hữu chéo và điều khoản quản trị; theo kế hoạch, cả hai giữ mức sở hữu chéo 15% còn Renault chuyển 28,4% cổ phần Nissan vào một quỹ uỷ thác theo luật Pháp [1].

Thông cáo chung ngày 26/7/2023 trên trang tin của Nissan cho biết hai bên đã ký các thoả thuận chính thức, dự kiến hoàn tất trong quý IV năm 2023 nếu đủ điều kiện: mức sở hữu chéo 15% kèm nghĩa vụ lock-up (hạn chế bán) và standstill (hạn chế mua thêm), còn Nissan cam kết đầu tư tới 600 triệu euro vào Ampere, đơn vị xe điện và phần mềm của Renault Group [2]. Bài học nằm ở công cụ: hạn mức sở hữu, uỷ thác giữ phần dư, ràng buộc mua bán và dự án cụ thể.

Tình huống áp dụng tại Việt Nam

Tại Việt Nam, Techcombank và Manulife là một hợp tác phân phối dài hạn đã chấm dứt. Theo VietnamFinance (23/9/2017), hai bên vừa ký thoả thuận hợp tác bảo hiểm độc quyền kéo dài 15 năm: Techcombank cho phép Manulife Việt Nam bán bảo hiểm nhân thọ cho khách hàng của mình qua hơn 300 chi nhánh, hướng tới mục tiêu hơn 10 nghìn tỷ đồng phí bảo hiểm trong 5 năm tới [3].

Ngày 7/10/2024, Techcombank thông báo chấm dứt quan hệ, sớm hơn thời hạn 15 năm đã công bố. Theo 24hmoney (12/10/2024), lý do ngân hàng nêu là thay đổi chiến lược kinh doanh và quy định mới của Luật Kinh doanh bảo hiểm [4]; VnBusiness (11/10/2024) ghi thêm bối cảnh thị trường, cho biết quan hệ độc quyền chấm dứt từ ngày 14/10 và thông báo có nêu việc đảm bảo lợi ích lâu dài cho khách hàng [5]. Hai bài không nêu cách xử lý hợp đồng đang có; bài này không đánh giá kết quả, chỉ rút ra rằng hợp đồng dài hạn cần cơ chế xử lý khi chiến lược hoặc luật đổi.

Theo Tạp chí Công Thương (24/4/2024), FPT và NVIDIA dự kiến cùng đầu tư 200 triệu USD xây nhà máy AI cung cấp nền tảng điện toán đám mây cho nghiên cứu AI, còn FPT dự kiến đưa nội dung đào tạo của NVIDIA vào đại học và trung học phổ thông, mục tiêu ít nhất 30.000 sinh viên và học sinh tiếp cận trong 5 năm [6]. VietnamFinance (10/5/2024) tường thuật FPT vừa nhập hệ thống DGX H100 đầu tiên theo biên bản ghi nhớ cuối tháng 4 [7]. Đây là kế hoạch và mốc đầu năm 2024; bài chưa kiểm tra tiến độ.

Về khung pháp lý tại Việt Nam, Diễn đàn Doanh nghiệp (12/2/2026) cho biết Luật Chuyển giao công nghệ 2025 có hiệu lực từ 1/4/2026; bài thuật lại ý kiến ông Chu Thúc Đạt, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, rằng công nghệ gồm tri thức, dữ liệu, thiết kế, mô hình, thuật toán và phần mềm, và chủ sở hữu được thương mại hoá hoặc góp vốn bằng công nghệ [8]. LuatVietnam (28/3/2026) tổng hợp rằng luật sửa đổi có chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, đất đai và tín dụng [9]. Trước khi góp vốn bằng công nghệ, hãy hỏi luật sư về định giá.

Sai lầm thường gặp, giới hạn và khi nào không nên dùng

Sau khi ký, các sai lầm lặp lại nhiều nhất đều đến từ việc coi giá trị là mặc nhiên có. Năm điều dưới đây đáng rà trước khi bắt tay vào việc, vì phòng ngừa thường rẻ hơn chi phí sửa về sau.

  • Bàn giao công nghệ trước khi chốt quyền với cải tiến, bảo mật và dữ liệu.
  • Bán chung mà thiếu đầu mối, mã theo dõi và quy tắc dữ liệu khách, nên không ai biết kết quả đến từ đâu.
  • Chỉ nhìn ROI, bỏ qua chi phí duy trì và chất lượng quan hệ.
  • Coi lệch hướng là lỗi của đối tác thay vì tín hiệu để chỉnh mục tiêu, vai trò hay điều khoản.
  • Không viết điều khoản thoát từ đầu, nên chấm dứt thành cuộc tranh cãi.

Về giới hạn, ROI và các chỉ số khách hàng cần dữ liệu và thời gian; quan hệ nhỏ hoặc mới thì dùng chỉ số đơn giản kèm nhận xét định tính. Dùng chung nguồn lực không hợp khi hai bên khác nhau quá nhiều về chuẩn chất lượng, hay khiến bạn phụ thuộc vào một bên.

Kế hoạch thử nghiệm 2 đến 4 tuần và câu hỏi tự kiểm

Nếu bạn đang có một quan hệ hợp tác mà chưa ai đo, bốn tuần đủ để dựng khung theo dõi đầu tiên. Mỗi tuần chốt một sản phẩm cụ thể, và chỉ cần vài giờ của người giữ đầu mối ở mỗi bên.

  • Tuần 1: chọn cần gạt chính, viết mục tiêu đo được, ghi mốc gốc cho ba đến sáu chỉ số.
  • Tuần 2: dựng bảng số liệu chung, gắn mã theo dõi cho khách do đối tác mang lại, chốt người phụ trách hai phía.
  • Tuần 3: họp rà soát đầu tiên, tính thử ROI có chi phí duy trì, liệt kê sự kiện kích hoạt.
  • Tuần 4: viết nháp kế hoạch thoát ra và gửi đối tác cùng xem.

Trước khi coi khung này đủ dùng, hãy trả lời năm câu hỏi. Giá trị mong đợi đến từ cần gạt nào, ai chịu trách nhiệm? Mốc gốc đã ghi chưa? Bộ chỉ số có cân bằng không? Điều gì sẽ kích hoạt đàm phán lại? Nếu chấm dứt vào quý tới, dữ liệu, khách và nhân sự được chia thế nào?

Kết luận

Phần một giúp chọn đúng đối tác và ký đúng thoả thuận; phần hai nhắc rằng giá trị phải được khai thác, đo, chỉnh và, khi cần, buông tay có trật tự. Ba cần gạt công nghệ, thị trường và chi phí chỉ phát huy khi gắn với người phụ trách, điều khoản và chỉ số; đo lường, điều chỉnh và lối ra là phần bảo hiểm cho giá trị đó. Đến đây chuỗi hai bài khép lại ở một vòng đầy đủ, từ khoảng trống năng lực đến lối ra.

Nguồn và phương pháp

Bài là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ AI, diễn đạt lại bằng lời riêng, không phải là bản dịch. Nội dung dựa trên tài liệu "Strategic Partnerships" của Daniel Pereira (2022), phần sau (trang 60 đến 118), kết hợp nghiên cứu bổ sung từ các nguồn web được đánh số trong bài; các nguồn web được truy cập ngày 20/10/2026. Khung ba cần gạt và ba việc giữ giá trị, bốn bậc hợp tác bán hàng, ví dụ tính ROI và danh sách sự kiện kích hoạt là cách sắp xếp của bài này, không phải số liệu hay kết luận thực nghiệm.

Điều chưa kiểm chứng: Luật Chuyển giao công nghệ 2025 mới được đọc qua hai bài báo, chưa so với văn bản gốc; lý do Techcombank chấm dứt hợp tác là lời ngân hàng nêu theo báo chí, còn hai bài năm 2024 gọi quan hệ là “một thập kỷ hợp tác”, chưa khớp hẳn mốc ký năm 2017 nên bài chỉ dùng các mốc ngày nêu rõ; kế hoạch của FPT và NVIDIA là thông tin năm 2024 với cụm từ dự kiến, tiến độ đến nay chưa kiểm tra; chi tiết Renault và Nissan lấy từ thông cáo chung của hai hãng, chưa kiểm tra diễn biến sau năm 2023. Bạn đọc nên tìm tài liệu gốc và hỏi luật sư trước khi ký bất kỳ thoả thuận nào.