Mô hình kinh doanh thế kỷ 20 và 21: cùng một công thức, giá trị đã dời sang đâu
Đăng ngày 23/10/2026
Mục lục bài nghiên cứu

Tóm tắt và điều cần nhớ
Mô hình kinh doanh thời nào cũng trả lời ba câu hỏi: giá trị được tạo ra thế nào, đến tay khách ra sao và doanh nghiệp giữ lại phần nào. Bài so sánh cách trả lời ở thế kỷ 20 và thế kỷ 21, rồi chỉ ra điều người quản lý ở Việt Nam có thể dùng để rà lại mô hình của mình.
- Công thức tạo, chuyển giao, thu giữ giá trị gần như bất biến; cái đổi là cách thực hiện từng khâu.
- Công nghệ hạ ba loại chi phí: tiếp cận khách, phối hợp nhiều bên cung ứng và thu tiền nhỏ lẻ.
- Thu giữ giá trị có năm cách phổ biến, mỗi cách đẩy rủi ro sang một bên khác nhau.
- Năm chỉ báo sức khoẻ của mô hình có thể mâu thuẫn nhau nên phải đọc cùng lúc, theo từng nhóm khách.
- Mô hình thế kỷ 21 không thay được mọi mô hình cũ; có cách thu ra mắt rồi phải điều chỉnh hoặc khép lại.
Vấn đề: cùng một công thức, nhưng giá trị đã dời chỗ
Câu hỏi khó nhất khi thiết kế mô hình kinh doanh không phải là kiếm tiền thế nào mà là giá trị thật sự nằm ở đâu. Ai trả lời rõ được điều đó gần như đoán trước được giá trị sẽ dịch đến đâu; ai nhầm thì dễ giữ nguyên cách làm trong khi thứ khách quý đã sang chỗ khác.
Công thức ba khâu không đổi từ thế kỷ trước sang thế kỷ này. Cái đổi là công nghệ làm thay đổi hành vi khách và chi phí từng khâu, nên cùng một công thức cho ra những mô hình rất khác. Hiểu cơ chế đó giúp tránh hai thái cực: coi mô hình cũ là lỗi thời, hoặc sao chép mô hình mới như bộ đồ may sẵn.
Khái niệm cốt lõi: ba câu hỏi về giá trị
Mô hình kinh doanh là logic mô tả cách một tổ chức tạo ra, chuyển giao và thu giữ giá trị, theo cách hiểu quen thuộc trong Business Model Canvas. Trọng tâm là giá trị chứ không phải tiền: tiền chỉ là phần giá trị doanh nghiệp giữ lại được.
Tạo giá trị là cung ứng thứ khách thấy đáng giá hơn chi phí làm ra nó; nếu chi phí vượt mức thị trường chịu trả thì doanh nghiệp đang phá huỷ giá trị chứ không tạo ra. Giá trị phải đến tay khách rồi mới thu giữ được.
Chuyển giao giá trị, nhìn từ phía khách, là việc họ chấp nhận chứ không phải việc doanh nghiệp gửi đi. Khách chấp nhận khi biết đến doanh nghiệp, tin sản phẩm giải đúng vấn đề của mình và kỳ vọng kết quả tốt hơn; marketing, bán hàng và chăm sóc xây ba điều đó.
Thu giữ giá trị là khâu doanh nghiệp được trả tiền và có lãi. Phần giữ lại không chỉ là giá bán trừ chi phí: giá đối thủ và mong muốn làm khách hài lòng quyết định doanh nghiệp để lại bao nhiêu thặng dư cho khách.

Ba loại chi phí mà công nghệ đã hạ xuống
Công nghệ không đổi công thức ba khâu; nó đổi giá của từng khâu. Có thể gom thành ba loại chi phí giảm mạnh nhờ internet và điện thoại thông minh. Thứ nhất là chi phí tiếp cận khách: một cửa hàng nhỏ giờ xuất hiện trước người mua khắp cả nước mà không cần mặt bằng đẹp. Thứ hai là chi phí phối hợp nhiều bên cung ứng: ứng dụng ghép tài xế, chủ nhà hay người bán với người cần, còn xếp hạng và đánh giá thay một phần vai trò người gác cổng.
Thứ ba là chi phí thu tiền nhỏ lẻ. Khi ví điện tử, thẻ và mã QR cho phép thu vài nghìn đồng mỗi lượt gần như không tốn thêm, những cách thu trước kia không kinh tế, như tính theo phút, theo km hay theo bài học, trở nên khả thi. Mỗi khi một loại chi phí giảm, mô hình từng không bù nổi chi phí giao dịch xuất hiện, và khách quen dần với giao hàng theo yêu cầu, giá minh bạch, đánh giá công khai.
Ở Việt Nam, quy mô thay đổi ấy đã thành số liệu. Báo cáo e-Conomy SEA 2025 của Google, Temasek và Bain ước tính kinh tế số Việt Nam đạt 39 tỷ USD tổng giá trị giao dịch năm 2025, so với 34 tỷ năm 2024 và 30 tỷ năm 2023, trong đó thương mại điện tử khoảng 25 tỷ USD [1]. Đây là giá trị giao dịch qua nền tảng, không phải doanh thu hay lợi nhuận của nền tảng.

Tạo và chuyển giao giá trị: từ tài sản riêng sang mạng lưới
Ở hai khâu đầu, ngành nào cũng thấy bốn dịch chuyển lặp lại. Dịch chuyển thứ nhất là từ tài sản sở hữu sang mạng lưới đối tác: thay vì mua xe, xây phòng, doanh nghiệp tổ chức người có xe, có phòng rồi lấy phần cho việc kết nối. Ưu điểm là mở rộng nhanh và vốn nhẹ; cái giá là chất lượng phụ thuộc vào đối tác và quan hệ với họ luôn có căng thẳng.
Dịch chuyển thứ hai là từ người bán tạo mọi thứ sang người dùng cùng tạo: nội dung, đánh giá, video bán hàng do người dùng và người bán nhỏ làm ra, nền tảng lo hạ tầng và phân phối. Dịch chuyển thứ ba là từ phải đến địa điểm sang theo yêu cầu và tự phục vụ: khách tự mở tài khoản, tự học, tự điền biểu mẫu lúc mình muốn. Dịch chuyển thứ tư là từ chuyên gia làm từng ca sang quy trình chuẩn hoá, đổi lấy giá thấp hơn và độ phủ rộng hơn nhưng kém khả năng xử lý ca khó.
Cả bốn làm đổi cách khách chấp nhận giá trị. Khi mua qua ứng dụng, niềm tin không còn đến từ mặt tiền cửa hàng mà từ đánh giá, bảo đảm hoàn tiền và cách nền tảng xử lý tranh chấp; doanh nghiệp phải đầu tư vào những thứ mà trước đây gạch vữa đã làm hộ. Khách cũng chuyển nhà cung cấp dễ hơn, nên giữ chân phải dựa vào giá trị chứ không dựa vào sự bất tiện.
Thu giữ giá trị: năm cách thu và rủi ro đi kèm
Thu giữ giá trị là khâu có nhiều lựa chọn nhất, và mỗi lựa chọn chuyển rủi ro sang một bên khác nhau. Có thể sắp thành năm cách, từ cách quen thuộc của thế kỷ 20 đến những cách chỉ khả thi khi chi phí thu tiền nhỏ lẻ đã giảm.
- Bán đứt: khách trả một lần, doanh nghiệp thu đủ ngay; rủi ro đầu tư nằm ở doanh nghiệp, rủi ro chất lượng ở khách.
- Thuê bao: khách trả đều theo kỳ để được dùng; doanh nghiệp chịu rủi ro khách bỏ đi và phải liên tục chứng minh giá trị.
- Theo lượt dùng: tính theo giờ, km, dung lượng hay giao dịch; khách chịu rủi ro hoá đơn biến động, doanh nghiệp chịu rủi ro sản lượng.
- Theo kết quả: khách chỉ trả khi sản phẩm vận hành tốt; doanh nghiệp gánh rủi ro vận hành.
- Hoa hồng hoặc quảng cáo: nền tảng thu từ bên khác với bên dùng; rủi ro là phụ thuộc đối tác và sức hút nền tảng.
Chọn cách thu nên bắt đầu từ cấu trúc chi phí. Sản phẩm có chi phí biên thấp, như phần mềm, hợp với thuê bao hoặc dùng thử miễn phí; sản phẩm tốn chi phí mỗi lượt dùng hợp với cách tính theo lượt. Doanh nghiệp cũng có thể cố ý để lại một phần giá trị cho khách, như gói miễn phí hay hoa hồng thấp, miễn là có đường biến người dùng miễn phí thành khách trả tiền và chi phí phục vụ vẫn kiểm soát được.

Dấu hiệu một mô hình khoẻ và những phép đo dễ đánh lừa
Một mô hình được xem là khó cưỡng khi hội đủ năm dấu hiệu: tăng trưởng nhanh, biên lợi nhuận cao, chu kỳ tiền thuận lợi, giữ chân khách tốt, bán hàng và tiếp thị hiệu quả. Điều ít được nói là năm dấu hiệu kéo về các hướng khác nhau, nên chỉ nhìn một chỉ số rất dễ bị đánh lừa, nhất là khi tăng trưởng đến từ khuyến mãi.
Tăng trưởng nhờ giảm giá sâu làm biên mỏng đi. Biên cao có thể che tỷ lệ khách bỏ đi lớn nếu chỉ tính trên khách còn lại. Chu kỳ tiền đẹp nhờ thu trước hiện rõ trong tài khoản nhưng che nghĩa vụ phải phục vụ về sau. Giữ chân tính gộp che sự khác nhau giữa khách mới và khách cũ. Chi phí kéo một khách thường bị tính sót khi khách đến từ kênh tưởng như miễn phí. Mỗi cặp mâu thuẫn như vậy là chỗ nên đặt câu hỏi trước khi mở rộng.
Cách đọc đúng là chia khách theo nhóm thời điểm gia nhập (cohort) rồi đặt năm chỉ số cạnh nhau: doanh thu từng nhóm theo tháng, biên sau chi phí giao nhận và phục vụ, số ngày từ lúc chi tiền đến lúc thu tiền, tỷ lệ còn lại sau 3, 6 và 12 tháng, và chi phí kéo một khách so với tiền khách mang lại. Không có ngưỡng chung cho mọi ngành; hãy so với chính mình qua thời gian và với đối thủ cùng loại hình.

Cách áp dụng từng bước
- Bước 1: Viết ba câu cho mô hình hiện tại, mỗi câu kèm một con số: tạo giá trị gì, chuyển giao bằng đường nào, thu giữ bằng cách nào.
- Bước 2: Hỏi khách một câu: họ thực sự trả tiền cho điều gì, và điều đó nằm ở khâu nào.
- Bước 3: Dò xem loại chi phí nào trong ba loại (tiếp cận, phối hợp, thu nhỏ lẻ) đã giảm mà bạn chưa tận dụng.
- Bước 4: Chọn một dịch chuyển để thử, không đổi cả ba khâu cùng lúc.
- Bước 5: Tính lại kinh tế đơn vị và dòng tiền của cách làm mới trên giấy, gồm cả giai đoạn chạy song song.
- Bước 6: Chạy thí điểm với một nhóm khách nhỏ trong 4 đến 8 tuần, đo năm chỉ báo theo nhóm.
- Bước 7: Quyết định giữ song song, thay thế hoặc dừng, và ghi lại lý do để lần sau không phải đoán.
Ví dụ quốc tế: thu tiền theo giờ bay thay vì bán động cơ
Rolls-Royce, hãng động cơ máy bay, cung cấp dịch vụ TotalCare, còn gọi là Power by the Hour. Khách hàng trả một mức cố định tính trên mỗi giờ bay; hãng quản lý động cơ suốt vòng đời, đảm nhận bảo dưỡng và rủi ro liên quan, nên doanh thu gắn với độ tin cậy của động cơ [2]. Với hãng, doanh thu định kỳ dài hạn giúp thu hồi khoản đầu tư nghiên cứu lớn; với khách, chi phí sở hữu dễ dự đoán hơn [2].
Tình huống áp dụng tại Việt Nam
Xe công nghệ cho thấy mô hình mạng lưới. Theo Quyết định 24/QĐ-BGTVT, Bộ Giao thông vận tải cho thí điểm thay hợp đồng giấy bằng hợp đồng điện tử với xe hợp đồng dưới 9 chỗ; một bài báo tháng 11/2017 ghi nhận số xe tham gia thí điểm đã tăng đến 50.000 chỉ trong 18 tháng [3]. Từ 1/4/2020 thí điểm chấm dứt và các đơn vị phải chọn hoạt động theo loại hình xe hợp đồng hoặc taxi theo Nghị định 10/2020/NĐ-CP [4]. Bài học: mạng lưới đối tác lớn nhanh, nhưng phải có chỗ đứng pháp lý.
Thuê pin của VinFast là ví dụ về thu giá trị theo lượt dùng. Tháng 1/2022, hãng công bố thuê pin với gói linh hoạt, tối thiểu 500 km mỗi tháng và tính thêm từ km thứ 501, cùng gói cố định không phụ thuộc quãng đường [5]. Trang chính thức của hãng ghi cước tính theo chu kỳ từ ngày 26 tháng trước đến ngày 25 tháng này, trả sau; từ 1/3/2025 hãng dừng cung cấp dịch vụ thuê pin cho ô tô điện, khách đang thuê vẫn được tiếp tục [6]. Cách thu này đã được điều chỉnh nhiều lần.
Về phía người dùng và người bán cùng tạo giá trị, báo cáo e-Conomy SEA 2025 nhận định thương mại video ở Việt Nam có nền tảng bền vững khi số người bán và số giao dịch tăng song song [1]. Với chủ doanh nghiệp nhỏ, nền tảng như vậy hạ chi phí tiếp cận khách nhưng chuyển một phần quyền kiểm soát quan hệ khách hàng sang nền tảng.

Sai lầm thường gặp, giới hạn và khi nào không nên dùng
- Sao chép hình thức của mô hình mới mà không hiểu giá trị nằm ở đâu trong ngành mình.
- Tưởng đưa lên ứng dụng là đã có mô hình mới, trong khi cách thu và cấu trúc chi phí vẫn như cũ.
- Cho đi giá trị miễn phí mà không có đường chuyển thành doanh thu và không kiểm soát được chi phí phục vụ.
- Đẩy rủi ro sang đối tác hoặc khách rồi bị phản ứng, hoặc đổi cách thu mà bỏ rơi khách đang dùng cách cũ.
Không phải ngành nào cũng chuyển được. Lĩnh vực cần hiện diện vật lý, niềm tin cá nhân hoặc có quy định chặt vẫn giữ nhiều yếu tố của mô hình cũ, và một cách thu từng ra mắt vẫn có thể phải điều chỉnh hoặc khép lại. Nếu khách chưa quen thanh toán số, hoặc biên quá mỏng để chịu chi phí nền tảng, hãy cải tiến từng khâu nhỏ trước khi đổi cả mô hình.
Kế hoạch thử nghiệm trong 2 đến 4 tuần
- Tuần 1: Viết ba câu tạo, chuyển giao, thu giữ kèm số liệu hiện tại; chọn khâu muốn thử đổi.
- Tuần 2: Hỏi tám đến mười khách họ nhận được giá trị gì và muốn trả theo tháng, theo lượt hay theo kết quả.
- Tuần 3: Thiết kế một gói hoặc cách thu mới cho nhóm nhỏ, tính trước biên và dòng tiền.
- Tuần 4: Chạy thử, ghi năm chỉ báo theo nhóm và quyết định giữ, chỉnh hay dừng.
Ba câu hỏi tự kiểm: nếu khách chỉ trả cho một thứ bạn làm, đó là thứ nào; nếu đối thủ hạ trước một trong ba loại chi phí, bạn mất khách ở khâu nào; và cách thu mới của bạn đẩy rủi ro sang ai.
Kết luận
Công thức tạo, chuyển giao và thu giữ giá trị vẫn đứng vững; cái đổi là cách làm từng khâu, và mỗi thay đổi có cái giá riêng. Người quản lý nên bắt đầu từ câu hỏi giá trị nằm ở đâu, chọn một khâu để thử, đo theo nhóm khách và sẵn sàng điều chỉnh khi bằng chứng đổi.
Nguồn và phương pháp
Bài này là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ AI, diễn đạt lại bằng lời riêng và sắp xếp theo dàn ý của người viết; đây không phải bản dịch hay bản tóm tắt theo chương của bất kỳ tài liệu nào. Nền kiến thức khái niệm dựa trên tài liệu “Business Models in the 20th vs 21st Centuries” (Super Guide, Daniel Pereira, 2022; toàn bộ tài liệu, trang 1 đến 33). Bài không dùng lại các ví dụ ngành và ví dụ doanh nghiệp của tài liệu đó. Người đọc nên tìm tài liệu gốc để đọc đầy đủ.
Các số liệu và ví dụ đánh số [1] đến [6] lấy từ báo cáo e-Conomy SEA 2025 phần Việt Nam, trang giới thiệu TotalCare của Rolls-Royce, các bài của VietnamFinance, Viettimes, VietnamNet và trang dịch vụ pin của VinFast; tất cả được truy cập ngày 20/10/2026. Điều chưa kiểm chứng: số liệu e-Conomy được đọc qua công cụ trích xuất từ tệp PDF có bố cục bị xáo trộn, chỉ dùng các số đã khớp qua hai lần đọc; việc xem các trường hợp trên như ví dụ cho từng khâu của mô hình là diễn giải của bài.