BDSGPHẠM VĂN THƯNHÀ SÁNG LẬP BDSG
ENTài khoản
Kết nối
Menu
Mô hình kinh doanh · Nội dung có hỗ trợ AI

Tiến hoá của mô hình kinh doanh: lực đẩy, sáu dịch chuyển và cách đổi từng bước

Đăng ngày 23/10/2026

Mục lục bài nghiên cứu
Ảnh đại diện bài Tiến hoá của mô hình kinh doanh

Tóm tắt và điều cần nhớ

  • Mô hình kinh doanh là cách tạo và chuyển giao giá trị trong một bối cảnh cụ thể; bối cảnh đổi thì các thành phần của mô hình phải được căn chỉnh lại.
  • Ba lực đẩy chính là công nghệ, hàng hoá hoá và cạnh tranh; tại Việt Nam, quy định cũng có thể là lực đẩy thứ tư.
  • Điểm tựa của lợi thế đã dịch qua năm thời kỳ, từ sản xuất hàng loạt đến dữ liệu; mô hình bám điểm tựa cũ sẽ lỗi thời dần.
  • Mô hình đổi qua sáu dịch chuyển nhỏ, mỗi dịch chuyển chạm vài khối Canvas, nên có thể thử từng bước.
  • Tiến hoá có kỷ luật thường rẻ và ít rủi ro hơn xây mới, nhưng chỉ hợp khi lõi hiện tại còn khoẻ.

Vì sao mô hình đang có lãi vẫn phải tiến hoá

Một mô hình có thể sinh lời nhiều năm mà vẫn lỗi thời từ bên trong, vì lợi nhuận hôm nay phản ánh lựa chọn của hôm qua. Khi khách đổi cách mua, đối thủ đổi cách bán hoặc luật đổi cách tính chi phí, các thành phần của mô hình, từ đề xuất giá trị, kênh, nguồn lực đến cơ cấu chi phí, lệch nhau dần, còn doanh thu chỉ báo động muộn. Tiến hoá là chủ động căn chỉnh lại các thành phần ấy cho khớp nhau và khớp bối cảnh mới, thay vì chờ khủng hoảng buộc phải làm lại tất cả.

Khái niệm cốt lõi và thuật ngữ

Mô hình kinh doanh (business model) không chỉ là cách kiếm tiền: nó mô tả doanh nghiệp tạo ra và chuyển giao giá trị cho ai, bằng nguồn lực nào, trong bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hoá nào. Tiến hoá mô hình (business model evolution) là việc căn chỉnh các thành phần, có chủ ý hoặc do hoàn cảnh đẩy tới, để chúng khớp nhau hơn và tạo, giữ giá trị hiệu quả hơn. Khác cách mạng mô hình, tiến hoá giữ phần đang chạy và chỉ đổi những khối đã lệch.

Bốn thuật ngữ dùng xuyên suốt: dịch chuyển (shift) là thay đổi tương đối nhỏ, như đổi đề xuất giá trị hoặc phân khúc khách; độ khớp (fit) là mức nhất quán giữa các khối; hàng hoá hoá (commoditization) là khi sản phẩm không còn khác biệt nên chỉ cạnh tranh bằng giá; kinh tế tuần hoàn (circular economy) tạo giá trị bằng tái sử dụng và giảm phế thải, đối lập với chuỗi khai thác, sản xuất, thải bỏ.

Ba lực đẩy: công nghệ, hàng hoá hoá và cạnh tranh

Công nghệ đổi mô hình qua hành vi của khách trước, qua sản phẩm sau. Khi công nghệ làm việc cũ rẻ hơn, nhanh hơn hoặc minh bạch hơn, khách đổi điều họ coi là có giá trị, và thay đổi ấy mở đường cho làn sóng công nghệ kế tiếp. Tín hiệu sớm: tỷ trọng đơn từ kênh mới tăng đều, và khách hỏi về tính năng mà ứng dụng của đối thủ đã có, còn bạn chưa.

Hàng hoá hoá xảy ra khi khách thấy các lựa chọn giống nhau nên giá trở thành tiêu chí chính. Doanh nghiệp kẹt trong thế đó phải bán nhiều hơn để bù biên lợi nhuận mỏng, tức là mở rộng chỉ để đứng yên; khi hàng hoá mới lên ngôi, loại cũ còn mất cả chỗ đứng vì không ai thấy giá trị. Tín hiệu sớm: phải giảm giá thường xuyên hơn, và lý do khách chọn bạn rút lại thành một chữ: rẻ.

Cạnh tranh vừa là nguyên nhân dễ thấy nhất vừa khuếch đại hai lực kia. Quá nhiều đối thủ buộc doanh nghiệp tìm cách chơi khác, đôi khi mở ra khoảng thị trường chưa ai tranh; quá ít đối thủ lại làm chậm đổi mới, nhất là khi người dẫn đầu chủ quan. Tín hiệu sớm: đối thủ mới đánh vào cách bán, cách tính tiền hay cách giao thay vì vào sản phẩm của bạn, tức là đánh vào chính mô hình.

Năm thời kỳ: điểm tựa của lợi thế đã dịch chuyển

Nhìn dài hạn, điểm tựa của lợi thế đã dời qua năm thời kỳ, mốc năm chỉ gần đúng. Đến giữa thế kỷ 20, sản xuất hàng loạt và chuẩn hoá hạ giá thành, đưa hàng tới nhiều người hơn. Từ khoảng 1950, logistics và việc đặt sản xuất ở nhiều châu lục khiến phân phối thành lợi thế. Từ khoảng 1990, internet sinh ra những mô hình chưa từng có, như dịch vụ miễn phí sống nhờ quảng cáo. Từ khoảng 2010, khách tra được giá và đánh giá ở bất cứ đâu, nên quyền lực nghiêng về người mua. Từ khoảng 2025, lợi thế có thể nằm ở khả năng dự đoán nhu cầu bằng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.

Điều đáng rút ra là quy luật chứ không phải mốc năm: mỗi thời kỳ làm một điểm tựa cũ thành thứ rẻ hoặc phổ biến, và lợi nhuận chảy sang chỗ khan hiếm mới. Doanh nghiệp dựng mô hình trên điểm tựa của thời kỳ trước, như quy mô nhà máy hay độ phủ cửa hàng, vẫn có thể sinh lời nhưng đang đứng trên phần khan hiếm thu hẹp dần. Thời kỳ dữ liệu mới là dự báo của tài liệu nguồn, chưa phải điều đã xảy ra.

Mốc thời gian năm thời kỳ của lợi thế cạnh tranh
Hình 1. Điểm tựa lợi thế qua năm thời kỳ, mốc năm gần đúng. Minh hoạ khái niệm.

Số hoá: ba lớp tiến hoá thay vì làm lại từ đầu

Số hoá là động lực mạnh nhất của tiến hoá hiện nay, nhưng không đồng nghĩa với dựng mô hình mới. Bài này chia thành ba lớp, từ rẻ và ít rủi ro đến đắt và nhiều rủi ro. Lớp quy trình số hoá cách làm việc nội bộ như xử lý đơn, thu tiền, chăm sóc khách, nhằm giảm chi phí và sai sót. Lớp sản phẩm và trải nghiệm dùng dữ liệu để đổi cách khách mua, dùng và được phục vụ. Lớp logic giá trị đổi chính nguồn doanh thu, chẳng hạn biến dữ liệu hoặc một nền tảng thành thứ bán được.

Nguyên tắc chọn lớp: bắt đầu từ lớp thấp nhất còn tạo được khác biệt cho khách, chỉ lên lớp cao hơn khi có bằng chứng. Dữ liệu vận hành tích luỹ nhiều năm có thể thành tài sản mới ở lớp ba, nhưng chỉ khi được phép dùng và khách đồng ý. Lên lớp quá sớm khi quy trình bên dưới chưa vững sẽ phóng đại lỗi thay vì giảm lỗi, vì mọi sai sót chạy nhanh hơn và rộng hơn.

Ba lớp số hoá xếp từ quy trình đến logic giá trị
Hình 2. Ba lớp số hoá, từ nền rẻ đến đỉnh nhiều rủi ro. Minh hoạ khái niệm.

Sáu dịch chuyển và những khối Canvas bị chạm tới

Tiến hoá thường đi qua các dịch chuyển nhỏ; trước đây chúng ít vì doanh nghiệp đổi chậm, theo đường thẳng, nay chúng dày hơn. Có thể gom thành sáu nhóm. Từ chuỗi tuyến tính (pipeline) sang nền tảng (platform): giá trị nằm trong tương tác giữa các bên, không chỉ ở giao dịch. Từ tương tự sang số: tiếp cận khách nhanh và rẻ hơn. Từ sản phẩm sang dịch vụ: khách trả cho vấn đề được giải quyết. Từ tăng dần sang tăng cấp số: một cơ chế tự duy trì giúp mở rộng rất nhanh, thường ở quy mô toàn cầu. Từ cổ đông sang các bên liên quan: giá trị chia cho nhiều bên hơn. Từ tuyến tính sang tuần hoàn: tái sử dụng, giảm phế thải.

Hình 3 gợi ý mỗi dịch chuyển chạm vào khối Canvas nào và rủi ro chính. Hai lưu ý: các dịch chuyển hiếm khi đi một mình, vì chuyển sang nền tảng thường kéo theo số hoá, còn chuyển sang dịch vụ kéo theo đổi dòng tiền; và không dịch chuyển nào hợp với mọi doanh nghiệp, nên chọn từ lực đẩy mạnh nhất và khối đang lệch nhất.

Sáu thẻ dịch chuyển và khối Canvas bị chạm tới
Hình 3. Sáu dịch chuyển, khối Canvas bị chạm tới và rủi ro chính. Minh hoạ khái niệm.

Tiến hoá có kỷ luật và khi nào phải làm mới hẳn

Lập luận của tài liệu nguồn là tiến hoá dễ và sinh lợi hơn dựng mô hình mới. Bài coi đó là giả thuyết hợp lý chứ không phải quy luật: tiến hoá giữ được khách, quy trình và dòng tiền đang có, nhưng chỉ khi lõi còn khoẻ. Kỷ luật nằm ở bốn việc: chỉ đổi một hoặc hai khối mỗi lần, thử quy mô nhỏ trước, đặt tiêu chí dừng từ đầu, và bảo vệ phần đang sinh lời trong lúc thử.

Ma trận ghép hai câu hỏi: lõi hiện tại còn khoẻ không, và môi trường biến động mạnh đến đâu. Lõi khoẻ trong môi trường biến động mạnh là nơi tiến hoá chủ động phát huy. Lõi yếu trong môi trường biến động mạnh đòi hỏi quyết định lớn hơn, như làm mới hẳn hoặc thu hẹp có kế hoạch. Lõi yếu mà môi trường yên là vấn đề vận hành, cần sửa trước. Lõi khoẻ mà môi trường yên chỉ cần tối ưu và canh tín hiệu.

Ma trận lõi hiện tại và mức biến động của môi trường
Hình 4. Chọn tiến hoá hay làm mới theo sức khoẻ của lõi và biến động môi trường. Minh hoạ khái niệm.

Cách áp dụng từng bước

  • Bước 1: Vẽ mô hình hiện tại lên Canvas chín khối, ghi mỗi khối đang dựa vào điều gì, như một kênh bán hay một nhà cung cấp.
  • Bước 2: Chấm ba lực đẩy từ 1 đến 5 (thêm quy định nếu ngành bạn chịu), mỗi lực kèm một bằng chứng.
  • Bước 3: Tìm khối lệch nhất, tức khối mà bằng chứng cho thấy khách hoặc thị trường đã đi xa hơn mô hình.
  • Bước 4: Chọn tối đa hai trong sáu dịch chuyển xử lý được khối lệch ấy, rồi thiết kế thử nghiệm nhỏ với tiêu chí thành công và dừng viết trước.
  • Bước 5: Chạy vài tuần song song với mô hình cũ, rồi quyết định mở rộng, chỉnh hoặc dừng.
  • Bước 6: Cập nhật Canvas, ghi điều đã học và đặt lịch quét lại lực đẩy mỗi quý.

Tình huống áp dụng tại Việt Nam

Xanh SM của Công ty Cổ phần Di chuyển Xanh và Thông minh (GSM) có thể đọc như một dịch chuyển từ chuỗi tuyến tính sang nền tảng ở dạng lai. Hãng ra mắt ngày 14/4/2023 [1]; theo một bài báo tháng 3/2024, hãng sở hữu xe và coi tài xế là nhân viên hưởng lương cố định [2]. Ngày 22/3/2024, GSM mở đăng ký cho chủ xe điện VinFast tự doanh trên ứng dụng, kèm chia sẻ doanh thu và chính sách vay mua xe tới 70% giá trị [3]. Theo The Leader ngày 10/10/2024, đội xe khoảng 80.000 phương tiện, gồm cả xe của đối tác, phủ 54/63 tỉnh thành [1]. Theo cách đọc này, nguồn lực chính, phân khúc, doanh thu và chi phí đều bị chạm; bài không đánh giá hiệu quả tài chính.

Quy định cũng là lực đẩy mô hình. Theo Luật Bảo vệ môi trường 2020 và Nghị định 08/2022/NĐ-CP, nhà sản xuất, nhập khẩu một số nhóm hàng phải tái chế sản phẩm, bao bì của mình: từ 1/1/2024 với lốp, pin, ắc quy, dầu nhớt và một số bao bì, từ 2025 với hàng điện, điện tử, từ 2027 với phương tiện [4]. Doanh nghiệp tự tổ chức tái chế hoặc đóng góp vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, mức đóng phụ thuộc khối lượng đưa ra thị trường [4], nên thiết kế bao bì nhẹ hơn thành bài toán mô hình. Nghị định 05/2025/NĐ-CP sửa đổi một số điều, trong đó có quy cách tái chế bắt buộc [5]; ngưỡng áp dụng và mức đóng cần đối chiếu văn bản hiện hành.

Về thanh toán, số liệu Ngân hàng Nhà nước đăng tải ngày 2/2/2026 cho thấy hành vi của khách đã dịch chuyển. Năm 2025 so với 2024, giao dịch qua mã QR tăng 50,94% về số lượng và 124,06% về giá trị, còn giao dịch qua ATM giảm 17,3% về số lượng; tài khoản thanh toán cá nhân vượt 232 triệu; thanh toán không dùng tiền mặt trong thương mại điện tử đạt 66,8% [6]. Đây là lực đẩy công nghệ đang đổi kênh thu tiền, có thể kéo theo đổi cả chi phí của người bán. Số liệu chỉ cho thấy xu hướng chung, chưa nói gì về một ngành hay cửa hàng cụ thể, nên cần đối chiếu với dữ liệu bán hàng của chính bạn.

Biểu đồ mức thay đổi các kênh thanh toán năm 2025
Hình 5. Thay đổi các kênh thanh toán năm 2025 so với năm 2024, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước.

Sai lầm thường gặp, giới hạn và khi nào không nên dùng

Sai lầm phổ biến nhất là sao chép dịch chuyển của doanh nghiệp khác mà không kiểm tra độ khớp với các khối còn lại, như chuyển sang thu thuê bao khi dòng tiền không chịu nổi việc thu chậm, hoặc mở nền tảng khi chưa đủ người bán lẫn người mua. Thứ hai là đổi nhiều khối cùng lúc nên không biết thay đổi nào có tác dụng. Thứ ba là nhầm đổi truyền thông với đổi mô hình: ứng dụng mới mà cách tính tiền, chuỗi giá trị và chi phí vẫn y nguyên thì chưa phải tiến hoá.

Khung này có giới hạn. Các mốc thời kỳ là cách chia gần đúng từ bối cảnh toàn cầu, lệch nhau giữa ngành và giữa nước. Sáu dịch chuyển là cách phân loại, không phải danh mục phải làm hết. Đừng dùng khung này để biện minh cho đổi mới liên tục khi lõi khoẻ và môi trường yên, hay để trì hoãn quyết định khó khi lõi đã hỏng. Khai thác dữ liệu khách phải tuân thủ quy định về dữ liệu cá nhân.

Kế hoạch thử nghiệm 4 tuần và câu hỏi tự kiểm

  • Tuần 1: Vẽ Canvas hiện tại, chấm ba lực đẩy, thu mỗi lực một bằng chứng như tỷ trọng đơn theo kênh, tần suất giảm giá, động thái của hai đối thủ.
  • Tuần 2: Chọn khối lệch nhất và tối đa hai dịch chuyển ứng viên; hỏi năm khách và hai đối tác xem điều gì sẽ đổi với họ.
  • Tuần 3: Dựng một thử nghiệm nhỏ (một nhóm khách, sản phẩm hoặc chi nhánh) với tiêu chí đặt trước.
  • Tuần 4: Họp quyết định mở rộng, chỉnh hay dừng, ghi lại điều đã học.
  • Tự kiểm 1: Nếu kênh hoặc nhóm khách quan trọng nhất biến mất sau 12 tháng, mô hình còn chạy không?
  • Tự kiểm 2: Khách chọn bạn vì giá trị hay chỉ vì giá?
  • Tự kiểm 3: Quy định nào đang hoặc sắp đổi chi phí của bạn?

Kết luận

Mô hình bền không phải mô hình đứng yên mà là mô hình đổi đúng khối vào đúng lúc. Công nghệ, hàng hoá hoá, cạnh tranh và quy định đẩy từ bên ngoài, sáu dịch chuyển chỉ hướng đi, còn Canvas cho biết khối nào chịu tác động. Hãy bắt đầu từ việc đem lại nhiều giá trị hơn cho khách hiện tại, thử nhỏ và giữ phần đang sinh lời; chỉ khi lõi đã hỏng mới cần quyết định lớn hơn.

Đừng hỏi mô hình đã đủ mới chưa; hãy hỏi khối nào đang lệch so với khách và thị trường.

Nguồn và phương pháp

Bài là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ AI, diễn đạt lại bằng lời riêng, không phải bản dịch. Nội dung nền dựa trên tài liệu “Business Model Evolution” (Super Guide của Daniel Pereira, 2022; toàn bộ phần nội dung, trang 1-22). Cách chia ba lớp số hoá, ma trận chọn tiến hoá hay làm mới, việc gắn dịch chuyển với khối Canvas, các tín hiệu sớm và kế hoạch 4 tuần là phần phân tích của bài này. Bạn nên tìm đọc tài liệu gốc và các tài liệu về đổi mới mô hình kinh doanh để có đầy đủ hơn.

Dữ kiện Việt Nam lấy từ các nguồn web sau, truy cập ngày 20/10/2026:

  • [1] The Leader, bài về thị trường gọi xe và Xanh SM, đăng ngày 10/10/2024.
  • [2] Báo Hà Tĩnh, bài về Xanh SM và Grab, đăng ngày 09/03/2024.
  • [3] Green SM (GSM), thông cáo về mở đón đối tác tài xế tự doanh trên nền tảng Xanh SM Platform, đăng ngày 22/03/2024.
  • [4] Mekong ASEAN, bài về trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất, nhập khẩu từ 1/1/2024, đăng ngày 01/01/2024.
  • [5] VnEconomy, bài về tỷ lệ và quy cách tái chế bắt buộc theo Nghị định 05/2025/NĐ-CP, đăng ngày 19/01/2025.
  • [6] Mekong ASEAN, bài về số liệu thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 của Ngân hàng Nhà nước, đăng ngày 02/02/2026.

Điều chưa kiểm chứng: mô hình nhân viên hưởng lương cố định của Xanh SM chỉ theo một bài báo và có thể đã thay đổi; tỷ trọng xe đối tác trong đội xe; ngưỡng miễn trừ, mức đóng góp tái chế và nội dung đầy đủ của Nghị định 05/2025/NĐ-CP (chỉ đọc qua báo, cần đối chiếu văn bản chính thức); tình hình thanh toán sau năm 2025; các mốc thời kỳ lấy theo cách chia của tài liệu nguồn, chỉ mang tính gần đúng.