Mô hình doanh thu: hai câu hỏi để chọn cách thu tiền, từ bán đứt, thuê bao đến quảng cáo
Đăng ngày 23/10/2026
Mục lục bài nghiên cứu

Tóm tắt và điều cần nhớ
Bài này đi qua các cách một doanh nghiệp kiếm tiền, từ bán đứt, thuê bao, hoa hồng đến quảng cáo, rồi chỉ ra cách chọn và ghép chúng. Thay vì học thuộc hơn hai chục tên gọi, bạn dùng một bản đồ hai câu hỏi: ai trả tiền, và tiền đến theo nhịp nào.
- Mô hình kinh doanh chứa mô hình doanh thu, mô hình doanh thu chứa các dòng doanh thu.
- Hai câu hỏi chọn cách thu: ai trả tiền, và tiền đến từng lần, đều theo kỳ hay theo mức dùng.
- Mỗi mô hình dồn rủi ro vào một chỗ: giữ chân khách, giữ giao dịch hoặc giữ lượng truy cập.
- Doanh thu không phải tiền đã thu; kế toán ghi nhận theo nghĩa vụ đã thực hiện.
- Quy định mới ở Việt Nam về dữ liệu cá nhân, quảng cáo và kế toán ảnh hưởng đến cách vận hành vài mô hình.
Mô hình doanh thu nằm ở đâu trong doanh nghiệp
Ba khái niệm hay bị trộn lẫn xếp thành ba lớp. Mô hình kinh doanh là toàn bộ cách doanh nghiệp tạo ra, chuyển giao và giữ lại giá trị. Bên trong nó, mô hình doanh thu là phần giữ lại giá trị bằng tiền: bán gì, cho nhóm khách nào, đặt giá ra sao, thu bằng cách nào. Trong mô hình doanh thu có các dòng doanh thu, mỗi dòng là một nguồn tiền cụ thể với đơn giá và nhịp thu riêng.
Hãy hình dung một xưởng rang cà phê (tình huống giả định). Mô hình kinh doanh là mua hạt xanh, rang rồi bán cho người uống. Mô hình doanh thu gồm bốn dòng: túi hạt bán lẻ tại quầy, gói hạt giao hằng tháng, bán sỉ cho quán nhỏ và lớp pha chế cuối tuần. Mỗi dòng có người trả, nhịp thu và rủi ro khác nhau; chọn dòng nào làm chủ lực chính là quyết định về mô hình doanh thu, vì nó định ra tiền về lúc nào, bên nào gánh rủi ro và trần tăng trưởng nằm ở đâu.

Chỉ số và thuật ngữ cần nắm trước khi chọn
Trước hết cần phân biệt ba đại lượng. Doanh thu là giá trị bán đã được ghi nhận, tiền thu là tiền thật đã về tài khoản, lợi nhuận là phần còn lại sau chi phí. Nhiều nhầm lẫn khi bàn mô hình doanh thu đến từ việc gộp ba thứ này làm một. Sáu thuật ngữ sau sẽ lặp lại trong bài.
- ARPU: doanh thu bình quân mỗi người dùng trong một kỳ.
- Tỷ lệ chuyển đổi: phần người ghé hoặc dùng thử thật sự thành khách trả tiền.
- Tỷ lệ rời bỏ (churn): phần khách ngừng trả trong một kỳ.
- CAC: chi phí quảng cáo và bán hàng chia cho số khách mới có được.
- LTV: lãi gộp một khách mang lại trong cả thời gian gắn bó.
- GMV và giá vốn: GMV là tổng tiền hàng qua nền tảng, chưa phải doanh thu của nền tảng; giá vốn là chi phí làm ra và giao sản phẩm.
Ví dụ giả định cho xưởng cà phê: gói hạt giá 80 nghìn đồng mỗi tháng, khách ở lại trung bình 5 tháng, lãi gộp bằng một nửa doanh thu. Doanh thu cả vòng đời của một khách là 0,4 triệu đồng, còn giá trị vòng đời tính theo lãi gộp chỉ 0,2 triệu đồng. Nếu chi phí có được một khách là 0,1 triệu đồng, mỗi đồng chi ra mang về 2 đồng lãi gộp; chỉ nhìn doanh thu 0,4 triệu đồng thì không thấy được điều đó.

Bản đồ doanh thu: ai trả tiền và tiền đến theo nhịp nào
Hơn hai chục tên gọi có thể xếp lên một bản đồ chỉ với hai câu hỏi. Thứ nhất, ai trả tiền: người dùng hay một bên khác như nhà quảng cáo, người bán, nhà tài trợ? Thứ hai, tiền đến theo nhịp nào: một lần cho mỗi lần mua, đều đặn theo kỳ, hay theo mức dùng và giao dịch? Mỗi ô có điều kiện thành công và kiểu rủi ro riêng.
Người dùng trả từng lần thì doanh nghiệp phải bán lại từ đầu mỗi lần nhưng tiền về nhanh. Trả đều theo kỳ thì doanh thu dễ dự báo nhưng phải giữ chân khách. Trả theo mức dùng hoặc giao dịch thì doanh thu co giãn cùng nhu cầu, biên lãi thường cao hơn, đổi lại khó đoán. Bên khác trả thì người dùng vào miễn phí, nhưng doanh nghiệp sống nhờ sự chú ý, dữ liệu hay thiện chí của bên trả.
Bản đồ không xếp hạng tốt xấu. Nó giúp thấy mình đang dồn trứng vào ô nào, ô nào còn trống và những ô nào bổ sung cho nhau, như ô trả từng lần cho dòng tiền nhanh, ô trả đều theo kỳ cho nền ổn định.

Khi người dùng trả cho từng lần mua
Dạng đơn giản nhất là bán đứt: mỗi giao dịch là một lần bán, tiền về ngay và khách hiểu mình trả cho gì. Đổi lại phải thuyết phục lại ở mỗi đơn, giá dễ bị kéo xuống vì cạnh tranh và doanh thu khó đoán. Biến thể bán lại có chênh giá lấy giá mua cộng một phần cộng thêm. Công thức dễ tính, nhưng ước sai chi phí cố định thì phần cộng thêm không đủ bù.
Tiếp theo là kênh bán. Bán trực tiếp giữ quyền kiểm soát giá, trải nghiệm và quan hệ khách, nhưng cần đội bán hàng riêng. Bán qua kênh phủ nhanh vùng rộng với ít vốn, đổi lại phải chia một phần giá cho kênh. Nhãn trắng đi xa hơn: bên làm ra sản phẩm giao cho đối tác đứng tên thương hiệu và chia doanh thu, hợp khi muốn vào thị trường mới mà không dựng hạ tầng, nhưng chất lượng và thương hiệu nằm ngoài tầm tay.
Hai cách khác tách giá bán ban đầu khỏi nguồn lãi. Bán thiết bị rất rẻ rồi thu lãi ở vật tư tiêu hao chỉ bền khi vật tư khó bị hàng khác thay thế; xưởng cà phê cho mượn máy pha rồi bán hạt là một dạng. Cách còn lại là cho dùng sản phẩm miễn phí, thường là phần mềm nguồn mở, rồi tính tiền cài đặt, tuỳ biến, đào tạo, hỗ trợ; dễ tạo niềm tin nhưng khó nhân rộng vì dựa vào sức người.
Khi tiền đến đều theo kỳ
Thuê bao biến một lần mua thành khoản trả đều để giữ quyền dùng. Doanh thu dự báo được vì mỗi kỳ chỉ cần giữ khách cũ, và khoản nhỏ mỗi kỳ ít làm khách chùn bước. Cái giá là phải tạo giá trị mới đều đặn, chi phí có được khách thu hồi sau nhiều kỳ, và mọi sơ suất lộ ngay ở tỷ lệ rời bỏ. Với xưởng cà phê, đó là gói hạt giao hằng tháng thay cho túi mua lẻ.
Thuê và cho thuê bán quyền dùng tài sản trong một thời hạn. Thuê hoạt động ngắn hạn, bên cho thuê giữ phần lớn rủi ro tài sản. Thuê tài chính dài hơn, bên thuê gánh gần hết rủi ro và thường được quyền mua khi hết hạn. Bán rồi thuê lại giúp rút vốn khỏi tài sản mà vẫn dùng nó. Doanh thu đều, đổi lại tài sản khó thanh khoản, tốn bảo trì và dễ tranh chấp.
Cấp phép dành cho ai có tài sản trí tuệ độc đáo: cho đối tác dùng theo thời hạn, lãnh thổ và phạm vi, thu phí cố định hoặc tiền bản quyền theo doanh số; đối tác lo thương mại hoá, chủ sở hữu phải theo sát hợp đồng. Cho vay thu lãi là giá của thời gian và rủi ro vỡ nợ, hợp với tổ chức có năng lực thẩm định và vốn lớn.
Khi tiền theo mức dùng và giao dịch
Mô hình đo đếm tính tiền theo lượng dùng thật: giờ, quãng đường, lượt gọi, dung lượng. Khách trả phần mình dùng nên dễ bắt đầu, còn doanh nghiệp hưởng đơn giá cao hơn chi phí phục vụ khi khối lượng lớn. Biến thể: tính theo người dùng, theo bậc giá có hạn mức hoặc theo lượt xem. Mặt trái là doanh thu thăng trầm theo nhu cầu, khách dễ bỏ đi và phải đạt lượng dùng đủ lớn mới hoà vốn.
Hoa hồng môi giới trả cho người đứng giữa kết nối hai bên, thường là một tỷ lệ phần trăm trên giá trị giao dịch, đôi khi là mức cố định mỗi vụ. Người môi giới không phải giữ hàng và ít vốn khởi đầu. Khó khăn nằm ở quy mô: doanh thu chỉ lớn khi mạng lưới đủ đông, kiểm soát chất lượng hạn chế, và các bên có thể bắt tay giao dịch ngoài nền tảng để né hoa hồng.
Tiếp thị liên kết là hoa hồng theo kết quả: người giới thiệu chỉ được trả khi có đơn hoặc có khách tiềm năng. Bên bán không phải trả trước cho khâu này, còn người giới thiệu phải xây uy tín và nội dung hữu ích trong thời gian dài. Điểm yếu là bên bán khó kiểm soát cách sản phẩm được mô tả, nên cần quy tắc rõ về nội dung quảng bá.
Khi bên khác trả tiền
Mô hình quảng cáo bán sự chú ý của người dùng cho nhà quảng cáo. Giá tính theo một nghìn lượt hiển thị (CPM), theo lượt nhấp (CPC), theo khách tiềm năng để lại thông tin (CPL) hoặc theo hành động, đơn hàng (CPA, CPS). Càng gần kết quả cuối, nhà quảng cáo càng ít rủi ro và bên phát hành càng gánh nhiều. Quảng cáo tăng theo lượng truy cập, nhưng dựng lượng truy cập tốn kém và doanh thu có thể cạn nhanh nếu nhà quảng cáo thấy không hiệu quả.
Ở các nền tảng miễn phí, người dùng và khách hàng là hai nhóm khác nhau: người dùng đóng góp sự chú ý và dữ liệu, khách hàng thật là bên trả tiền để tiếp cận họ. Biên lãi thường tăng cùng quy mô vì thêm một người dùng tốn rất ít. Điểm yếu là phụ thuộc vào sự quan tâm của người dùng; họ rời đi thì giá trị dữ liệu giảm theo.
Bán dữ liệu đi xa hơn: thu thập, làm sạch, phân tích rồi bán dữ liệu, hoặc bán công cụ và dịch vụ phân tích cho bên khác. Cấu trúc chi phí gọn, nhưng dữ liệu khó định giá, nhanh hết hạn và cần khách tin cậy cùng đầu tư an ninh. Với dữ liệu cá nhân, quy định pháp luật là ràng buộc lớn, sẽ nêu ở mục tình huống Việt Nam.
Tài trợ và quyên góp là trường hợp người trả không nhận sản phẩm tương xứng: nhà tài trợ mua hiện diện thương hiệu, người ủng hộ trả vì tin vào sứ mệnh. Hợp với tổ chức phi lợi nhuận, báo độc lập hay dự án cộng đồng; doanh thu khó đoán và thường chỉ đủ bù chi phí vận hành, nên hay kèm đặc quyền cho người ủng hộ.
Ghép nhiều mô hình và khi nào đổi mô hình
Rất ít doanh nghiệp sống bằng một dòng tiền. Mô hình lai ghép dòng này để bù điểm yếu của dòng kia: thuê bao cho nền ổn định cộng hoa hồng giao dịch để hưởng lúc nhu cầu lên; bán thiết bị cộng thuê bao phần mềm đi kèm; gói miễn phí để thu hút (chỉ một tỷ lệ nhỏ người dùng nâng cấp), bản trả phí để kiếm tiền, quảng cáo để bù phần còn lại.
Một lộ trình thường gặp là từ bán dịch vụ sang bán thuê bao. Doanh thu dịch vụ bị giới hạn bởi số giờ của đội ngũ nên khó tăng nhanh. Doanh nghiệp đóng gói kinh nghiệm thành sản phẩm thuê bao, giữ dịch vụ làm phần bổ sung cho khách lớn. Giai đoạn chuyển tiếp cần cả hai dòng cùng chạy; bỏ dòng cũ quá sớm dễ gây thiếu tiền mặt.
Ghép nhiều dòng cũng có giá: khách có thể không hiểu doanh nghiệp bán gì, các dòng tranh nguồn lực hoặc ăn vào nhau, như kênh bán trực tiếp làm đại lý phật ý, còn sổ sách phức tạp hơn. Nên thêm từng dòng một và đo riêng. Dạng chênh lệch giá, mua ở thị trường này rồi gần như đồng thời bán ở thị trường khác, ít hợp với doanh nghiệp nhỏ vì lợi nhuận mỏng, lại cần tốc độ, vốn và công nghệ.
Doanh thu không phải là tiền đã thu: ghi nhận doanh thu
Tiền về chưa chắc là doanh thu. Kế toán dồn tích ghi nhận doanh thu khi doanh nghiệp đã làm phần việc của mình, không phải lúc nhận tiền. Chuẩn mực quốc tế IFRS 15 đặt nguyên tắc: doanh thu phản ánh việc chuyển giao hàng hoá hoặc dịch vụ cho khách, ở mức đối giá doanh nghiệp kỳ vọng được hưởng [1].
Chuẩn đi qua năm bước: xác định hợp đồng với khách, xác định các nghĩa vụ thực hiện, xác định giá giao dịch, phân bổ giá đó cho từng nghĩa vụ, rồi ghi nhận doanh thu khi hoặc dần khi khách nắm quyền kiểm soát hàng hoá hay dịch vụ đó [1]. Một nghĩa vụ là riêng biệt khi khách hưởng lợi từ nó một mình hoặc cùng các nguồn lực khác và lời hứa chuyển giao nó tách biệt rõ với các cam kết còn lại; giá được chia theo giá bán độc lập tương đối của từng phần [1].
Với mô hình doanh thu, nguyên tắc kéo theo câu hỏi cho kế toán. Gói thuê bao thu cả năm một lần có tính hết ngay hay chia dần theo thời gian phục vụ? Gói thiết bị kèm phần mềm có phải tách hai phần với giá riêng? Nền tảng là bên bán hay chỉ đại lý nên chỉ tính hoa hồng? Câu trả lời đổi con số doanh thu; GMV hay tiền đặt cọc nên ghi riêng, đừng gọi chung là doanh thu.

Cách chọn và dựng mô hình doanh thu
- Bước 1: Viết ra khách là ai, ai dùng, ai trả, và họ sẵn sàng trả bao nhiêu cho việc gì.
- Bước 2: Dùng bản đồ để chọn hai đến bốn dòng thu khả dĩ, ít nhất một dòng ở ô khác với dòng chủ lực.
- Bước 3: Dự báo cho từng dòng giá, số khách, nhịp thu, chi phí phục vụ và chi phí có được khách.
- Bước 4: Kiểm tra điều kiện nền của từng dòng: đo được mức dùng, có tài sản để cấp phép, đủ lượng truy cập để bán quảng cáo.
- Bước 5: Chạy thử với nhóm khách nhỏ và theo dõi tỷ lệ chuyển đổi, ARPU, tỷ lệ rời bỏ, LTV so với CAC.
- Bước 6: Xem lại mỗi quý hoặc khi khách, thị trường, chi phí đổi; giữ bản dự báo cũ để so với thực tế.

Tình huống áp dụng tại Việt Nam
Hoa hồng nền tảng cho thấy doanh thu của bên này là chi phí của bên kia. Theo bài ngày 3/7/2026 trên trang VCCI, Shopee tăng phí xử lý giao dịch từ 4,91% lên 6% giá trị đơn kể từ ngày 1/5; bài không nêu năm [2]. VietnamFinance ngày 27/5/2026 dẫn số liệu tổng hợp của SHS: tổng khoản sàn khấu trừ mỗi đơn khoảng 8% năm 2022, 13% năm 2023 và 18% năm 2024, còn mốc 33,8% cho năm 2026 là dự báo, bài không ghi ai đưa ra [3]. Theo báo cáo SHS, nhiều nhà bán sau khi trừ chi phí sàn, vận chuyển, đóng gói và hoàn hàng chỉ còn biên lợi nhuận khoảng 5 đến 8% [3].
Với dữ liệu và quảng cáo, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, hiệu lực từ 1/1/2026, cấm mua, bán dữ liệu cá nhân trừ trường hợp luật có quy định khác, với mức phạt tối đa 10 lần khoản thu có được từ vi phạm (Điều 7 khoản 6, Điều 8 khoản 3) [4]. Xử lý dữ liệu khách hàng để kinh doanh quảng cáo phải được khách đồng ý, trên cơ sở khách biết rõ nội dung, phương thức, hình thức, tần suất giới thiệu sản phẩm và có cách từ chối (Điều 28 khoản 3) [4]. Doanh nghiệp ở Việt Nam nên rà lại cơ chế đồng ý và hỏi chuyên gia pháp lý.
Với tiếp thị liên kết và quảng cáo qua người có ảnh hưởng (KOL), bài trên LuatVietnam về Luật số 75/2025/QH15 sửa đổi Luật Quảng cáo nêu rằng từ 1/1/2026, KOL khi tham gia quảng cáo phải kiểm tra tài liệu về sản phẩm, không giới thiệu sản phẩm chưa dùng hoặc chưa hiểu rõ, và thông báo rõ việc quảng cáo; mạng xã hội phải có tính năng giúp người dùng phân biệt nội dung quảng cáo với nội dung khác [5]. Bên bán trả hoa hồng theo kết quả nên cân nhắc đưa các nghĩa vụ này vào hợp đồng.
Về ghi nhận doanh thu, theo bản tóm tắt của KPMG, Thông tư 99/2025/TT-BTC ban hành ngày 27/10/2025, có hiệu lực từ 1/1/2026 và áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày đó, thay Thông tư 200/2014/TT-BTC cùng một số thông tư trước đó [6]. Trong bản trình bày webinar của Grant Thornton Việt Nam, doanh thu được ghi nhận theo nghĩa vụ thực hiện, khoản thu hộ bên thứ ba không tính vào doanh thu và doanh thu cho thuê nhận tiền trước phải phân bổ [7].

Sai lầm thường gặp, giới hạn và khi nào không nên dùng
- Gọi tổng giá trị giao dịch, tiền đặt cọc hay tiền nhận trước là doanh thu.
- Chọn mô hình vì đang thịnh hành thay vì vì khách và chi phí của mình, như bán thuê bao cho thứ khách chỉ cần một lần.
- Chỉ nhìn doanh thu mà quên chi phí có được khách và chi phí phục vụ.
- Dồn gần hết doanh thu vào một nền tảng, một khách lớn hoặc một nhà quảng cáo; đổi chính sách phí là biên lãi biến mất.
- Ghép quá nhiều dòng cùng lúc, khiến khách khó hiểu và bạn khó đo dòng nào sinh lãi.
Có những tình huống nên tránh một mô hình: không dùng thuê bao nếu giá trị chỉ xuất hiện một lần; không dùng đo đếm nếu việc đo tốn hơn khoản thu; không dựa vào quyên góp để trả lương cố định; không dùng chênh lệch giá khi thiếu vốn và tốc độ. Bài này là tổng hợp kiến thức quản trị, không phải tư vấn tài chính hay pháp lý.
Kế hoạch thử nghiệm 2-4 tuần và câu hỏi tự kiểm
- Tuần 1: Liệt kê mọi khoản thu hiện có, xếp lên bản đồ, tính tỷ trọng từng ô và các chỉ số cơ bản.
- Tuần 2: Chọn một dòng mới, nêu giả thuyết về người trả, giá, nhịp thu và dự báo bằng ba kịch bản.
- Tuần 3: Mời nhóm khách nhỏ dùng thử; ghi tỷ lệ chuyển đổi, huỷ và lý do.
- Tuần 4: So kết quả với dự báo, hỏi kế toán cách ghi nhận doanh thu, rồi mở rộng, chỉnh hoặc dừng.
- Tự kiểm: ai thật sự trả; nếu bên trả đổi chính sách thì còn bao nhiêu doanh thu; con số nào gọi là doanh thu mà thực ra là tiền thu?
Kết luận
Mô hình doanh thu không phải một danh mục tên gọi để chọn một, mà là cách phối hợp có chủ đích hai câu hỏi: ai trả tiền và tiền đến theo nhịp nào. Doanh nghiệp bền thường chạy nhiều dòng thu, đo riêng từng dòng bằng vài chỉ số đơn giản, ghi nhận doanh thu đúng chuẩn kế toán và cập nhật khi khách, thị trường hay luật thay đổi.
Nguồn và phương pháp
Bài là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ AI, diễn đạt lại bằng lời riêng, không phải bản dịch. Bài dựa trên tài liệu “Super Guide: Revenue Models” (ấn bản lần hai) của Daniel Pereira (The Business Model Analyst, 2022), toàn bộ phần nội dung; bản đồ hai câu hỏi, xưởng cà phê, ví dụ số giả định và cách sắp xếp là của bài, kết hợp nghiên cứu web mở kiểm ngày 20/10/2026.
Điều chưa kiểm chứng: các số liệu về phí sàn lấy từ hai bài báo, chưa đối chiếu chính sách phí của từng sàn; phần Thông tư 99/2025/TT-BTC dựa trên bản tóm tắt của KPMG và bản trình bày của Grant Thornton, chưa đối chiếu toàn văn thông tư; điều khoản luật dữ liệu cá nhân đọc qua trang văn bản còn phần luật quảng cáo qua một bài tổng hợp, cả hai chưa đối chiếu toàn văn và chưa xác nhận hiệu lực hiện nay; mô tả IFRS 15 dựa trên một trang của hãng tư vấn. Bài không phải tư vấn pháp lý, tài chính hay khuyến nghị đầu tư. Bạn nên tìm tài liệu gốc để đọc đầy đủ.