BDSGPHẠM VĂN THƯNHÀ SÁNG LẬP BDSG
ENTài khoản
Kết nối
Menu
Mô hình kinh doanh · Nội dung có hỗ trợ AI

Mô hình khách sạn mới: nhượng quyền, boutique, căn hộ dịch vụ, nhà cho thuê ngắn ngày và bền vững (Phần 2/2)

Đăng ngày 23/10/2026

Mục lục bài nghiên cứu
Ảnh đại diện bài về các mô hình khách sạn ngoài truyền thống: nhượng quyền, boutique và nhà cho thuê ngắn ngày

Tóm tắt và điều cần nhớ

Chủ đề khách sạn được chia làm hai phần, và đây là phần cuối. Phần một đã bàn khách sạn truyền thống và kênh bán qua đại lý trực tuyến; phần này đi qua nhượng quyền, khách sạn boutique, lưu trú dài ngày, nhà ở chia sẻ, mô hình lai, rồi làm xanh và ứng dụng công nghệ.

  • Mỗi mô hình chia khác nhau ba lớp của khách sạn: tài sản, vận hành, thương hiệu cùng kênh bán.
  • Nhượng quyền mang về thương hiệu, đổi lại là phí nhiều năm và quyền tự quyết hẹp hơn.
  • Khách sạn boutique thắng bằng cá tính nhưng tốn chi phí mỗi phòng; lưu trú dài ngày đổi giá thấp lấy công suất ổn định.
  • Nhà cho thuê ngắn ngày linh hoạt nhưng vướng nhiều quy định; mô hình lai, làm xanh và công nghệ chỉ đáng làm khi qua bài kiểm tra về khách, tiền, rủi ro.
  • Tại Việt Nam đã có số liệu và quy định cụ thể cho từng hướng, nhưng còn thay đổi nhanh.

Bối cảnh: khách sạn là ba lớp ghép lại

Khách sạn truyền thống gói ba lớp vào một chủ thể: tài sản (đất và toà nhà), vận hành (đội ngũ chạy khách sạn mỗi ngày) và thương hiệu cùng kênh bán (tên gọi khách tin, hệ thống đặt phòng, khách quen). Các mô hình dưới đây tách hoặc gộp ba lớp theo cách khác: nhượng quyền thuê lớp thương hiệu, hợp đồng quản lý thuê lớp vận hành, khách sạn độc lập giữ cả ba ở quy mô nhỏ, nền tảng nhà ở chia sẻ chỉ dựng sàn kết nối mà không sở hữu căn nào (Hình 1).

Với mọi mô hình, hãy hỏi: lớp nào là lợi thế thật của tôi, lớp nào nên thuê, và ai gánh rủi ro khi doanh thu giảm?
So sánh bốn cách tổ chức khách sạn theo ba lớp
Hình 1. Minh hoạ khái niệm: ai nắm lớp nào trong bốn cách tổ chức khách sạn.

Khái niệm cốt lõi và thuật ngữ

Báo chí hay dùng lẫn các thuật ngữ dưới đây, dù mỗi thuật ngữ gắn với một cách chia rủi ro và doanh thu khác nhau. Nắm chúng trước sẽ giúp đọc nhanh hơn các mục sau, vì mỗi mục bàn về một mô hình.

  • Nhượng quyền (franchise): dùng tên và hệ thống của hãng, trả phí, theo tiêu chuẩn; bản mềm cho giữ nét riêng, bản cứng kiểm soát sát.
  • Hợp đồng quản lý: chủ đầu tư giữ tài sản, thuê công ty điều hành và trả phí quản lý.
  • Cho thuê ngắn ngày (short-term rental): chủ nhà cho thuê qua nền tảng kinh tế chia sẻ, nền tảng thu phí kết nối.
  • Nhẹ tài sản (asset-light): vận hành hoặc thuê lại cơ sở của người khác thay vì sở hữu.
  • Chứng nhận xanh và ESG: xác nhận độc lập về năng lượng, nước, rác; ESG là tiêu chí môi trường, xã hội, quản trị.

Nhượng quyền và thương hiệu: mua gì, trả gì, mất gì

Nhượng quyền biến khách sạn lẻ thành mắt xích của một mạng lưới. Chủ đầu tư nhận tên thương hiệu khách đã biết, hệ thống đặt phòng, chương trình khách quen, quy trình vận hành kèm đào tạo và sức mua gộp. Giá trị lớn nhất thường là khả năng định giá: thương hiệu mạnh bán được giá cao hơn và giảm chi phí tìm khách mới. Đổi lại là phí (ban đầu, bản quyền theo phần trăm doanh thu, đóng góp tiếp thị), tiêu chuẩn bắt buộc, và rủi ro lây danh tiếng khi một khách sạn khác trong mạng lưới gặp sự cố.

Nhượng quyền mềm đứng giữa tự vận hành và nhượng quyền cứng: chủ khách sạn giữ thiết kế, cách làm riêng và mượn tên cùng hệ thống đặt phòng; hãng kiểm soát ít hơn nhưng cũng cam kết ít hơn. Phép thử quyết định: lấy doanh thu tăng thêm nhờ thương hiệu (giá cao hơn, thêm lượt đặt trực tiếp) trừ đi phí và chi phí chuẩn hoá. Hợp đồng nhiều năm chỉ hợp lý khi kết quả còn dương trong mùa thấp điểm (Hình 2).

Không thuê thương hiệu thì phải tự xây, và logo chỉ là phần nhỏ nhất. Thương hiệu khách sạn gồm lời hứa với khách (nhóm khách, mức giá, mức dịch vụ), trải nghiệm nhất quán ở mọi điểm chạm và tiêu chuẩn viết thành văn bản để nhân viên mới cũng làm đúng. Khách tin trải nghiệm không đổi thì thương hiệu mới mở rộng được.

Ma trận chọn cách dùng thương hiệu
Hình 2. Minh hoạ khái niệm: chọn cách dùng thương hiệu theo năng lực của chủ đầu tư.

Khách sạn boutique và độc lập: thắng bằng cá tính, thua ở quy mô

Khách sạn boutique là khách sạn quy mô nhỏ, bán một cảm giác nhiều hơn một căn phòng: số phòng ít, thiết kế có chủ đề, dịch vụ nhớ từng khách. Họ chọn một ngách (như sang trọng, sinh thái, văn hoá nghệ thuật) và cộng tác với nghệ nhân địa phương. Đội nhỏ quyết định nhanh, còn không gian đẹp được khách tự đăng mạng xã hội thành quảng cáo không mất tiền.

Mặt trái nằm ở kinh tế đơn vị: thiết kế riêng và nhiều nhân viên trên mỗi phòng làm chi phí cao, quy mô nhỏ không có sức mua gộp, thương hiệu chưa nổi nên khách phụ thuộc đại lý trực tuyến. Khách sạn độc lập chỉ bền khi giá bình quân đủ cao hoặc có kênh bán riêng đủ mạnh; nhượng quyền mềm là lối ra cho nơi thiếu hệ thống đặt phòng mà không muốn mất cá tính.

Bốn việc sau, làm đều tay, giúp khách sạn độc lập sống khoẻ ở quy mô nhỏ. Thiếu một việc thì các việc còn lại khó cứu, nên có thể dùng chúng làm bảng tự chấm điểm mỗi quý để thấy chỗ nào đang hở.

  • Định vị rõ: nói được trong một câu vì sao khách chọn bạn thay vì khách sạn chuỗi gần đó.
  • Hợp tác địa phương với nghệ nhân, nhà hàng, đơn vị tour để làm giàu trải nghiệm.
  • Dịch vụ cá nhân hoá: nhân viên được đào tạo và trao quyền xử lý yêu cầu ngay.
  • Hiện diện số và đổi mới đều đặn: website có đặt phòng trực tiếp, quản lý đánh giá, tiện ích mới, công nghệ vừa sức.

Lưu trú dài ngày: khách sạn lưu trú dài ngày và căn hộ dịch vụ

Khách ở dài ngày cần nơi giống nhà hơn phòng ngủ: người đi công tác nhiều tuần, chuyên gia chuyển nơi làm việc, nhân sự dự án, gia đình đang chuyển nhà. Khách sạn lưu trú dài ngày đáp bằng phòng rộng, bếp nhỏ, chỗ giặt, bàn làm việc; căn hộ dịch vụ là căn hộ đủ nội thất thêm dọn phòng, lễ tân, và thu hút cả du khách đi đông người. Vận hành thiên về quản lý cộng đồng: dọn phòng ít lần nhưng kỹ, nhân viên nhận ra khách sau vài tuần, không gian chung giữ khách ở lâu.

Giá tính theo đêm, tuần hoặc tháng và giảm dần theo thời gian ở: đổi giá mỗi đêm lấy công suất ổn định, ít trả hoa hồng kênh bán, ít chi phí xoay vòng phòng; thu thêm từ giặt là, đưa đón và hợp đồng khung với doanh nghiệp. Xu hướng thuận gồm khách kết hợp công tác với nghỉ ngơi (bleisure), nhận phòng tự phục vụ, sống chung (co-living). Điểm yếu cần nhìn thẳng: khách phụ thuộc chu kỳ đầu tư và tuyển dụng của doanh nghiệp, như dữ liệu tại Việt Nam ở phần sau cho thấy.

Nhà cho thuê ngắn ngày và kinh tế chia sẻ: vừa đối thủ vừa đối tác

Nền tảng kinh tế chia sẻ ghép chủ nhà với khách và thu phí kết nối nên không phải xây hay sở hữu phòng nào. Chúng lớn nhanh nhờ điện thoại thông minh, nhu cầu sống như người địa phương và chủ nhà muốn kiếm thêm từ tài sản bỏ trống. Với khách sạn, tác động là thêm cạnh tranh và áp lực lên giá, nhưng hai bên vẫn phục vụ nhóm khách khác nhau. Chi phí xã hội gồm giá nhà tăng ở điểm nóng, tiếng ồn, an toàn, quá tải hạ tầng, nên các nước đang loay hoay với năm mảng quy định ở Hình 3.

Khách sạn không ngăn được nhà cho thuê ngắn ngày xuất hiện, nên các hướng đáp lại xoay quanh điều nền tảng khó làm: dịch vụ chuyên nghiệp, an toàn có kiểm soát, tiện ích đầy đủ. Bốn hướng hay được dùng, thường kết hợp với nhau:

  • Đa dạng danh mục: thêm căn hộ hoặc nhà nghỉ dưỡng qua hợp tác với chủ nhà hay công ty quản lý.
  • Trải nghiệm và công nghệ: dịch vụ cá nhân hoá, nhận phòng bằng điện thoại.
  • Nhóm khách ngách: khách công tác, hội nghị, khách cao cấp cần dịch vụ đầy đủ.
  • Hợp tác với nền tảng và cộng đồng địa phương.
Năm mảng quy định của nhà cho thuê ngắn ngày
Hình 3. Minh hoạ khái niệm: năm mảng quy định chủ nhà và nền tảng cần tính tới.

Mô hình lai và đổi mới: ghép thêm nguồn thu, kèm bài kiểm tra trước khi làm

Mô hình lai ghép lưu trú với một dòng khác để dùng nốt công suất tài sản và tìm nhóm khách mới. Bốn kiểu ghép hay gặp: theo thời gian ở (khách sạn kết hợp căn hộ); theo không gian (chỗ làm việc chung, nhà hàng mở cho cư dân quanh vùng, tiệc cưới, hội nghị); theo chủ đề (chăm sóc sức khoẻ, nghỉ dưỡng sinh thái); theo cách giữ tài sản (nhẹ tài sản, vận hành cơ sở của người khác dưới một thương hiệu chuẩn hoá). Càng ghép nhiều, vận hành càng phức tạp, nên chỉ nhân bản được khi có công thức chuẩn hoá và công nghệ gánh việc lặp lại.

Mô hình nhẹ tài sản cần soi một điểm: danh tiếng nằm ở bên đứng tên thương hiệu, còn hợp đồng thuê dài hạn có thể kéo rủi ro tài chính trở lại. Trước khi thử, hãy trả lời bảy câu hỏi gom thành ba nhóm (Hình 4): có khách không, làm được không, sống được không. Nhóm nào không đạt thì đừng bù bằng nhóm khác; hãy thử nhỏ, như một tầng hay một mùa, với ngưỡng đạt đặt trước.

Bảy câu hỏi trước khi thử mô hình lai
Hình 4. Minh hoạ khái niệm: bảy câu hỏi trước khi thử một mô hình lai.

Bền vững: tiết kiệm thật, chứng nhận có giá trị và những rào cản

Khách sạn dùng nhiều điện, nước và tạo nhiều rác, nên làm xanh trước hết là bài toán chi phí: đèn LED, cảm biến, vòi nước tiết kiệm, phân loại rác, giảm nhựa dùng một lần đều cắt được hoá đơn vận hành. Thêm hai lý do: một bộ phận khách ưu tiên nơi ở có cam kết môi trường rõ, và nhiều nhà đầu tư, ngân hàng xét tiêu chí ESG khi cấp vốn. Chứng nhận xanh biến cam kết thành thứ kiểm chứng được; chuẩn quốc tế hay được nhắc là LEED, EarthCheck và Green Key [1].

Rào cản phổ biến gồm vốn ban đầu cho thiết bị, nhân viên quen thói cũ, hạ tầng địa phương chưa sẵn sàng, thủ tục chứng nhận tốn thời gian và nhu cầu khách khác nhau theo thị trường. Phần lớn gỡ được nhờ làm đúng thứ tự (Hình 5): đo để có đường cơ sở, làm trước việc hoàn vốn nhanh, đào tạo nhân viên, đầu tư lớn khi số đo chứng minh khoản tiết kiệm, xin chứng nhận khi có dữ liệu, truyền thông bằng số đo thay vì khẩu hiệu để không bị coi là tẩy xanh (greenwashing).

Thứ tự sáu bước khi làm xanh khách sạn
Hình 5. Minh hoạ khái niệm: thứ tự nên theo khi làm xanh khách sạn.

Công nghệ, cá nhân hoá và AI: kỳ vọng của khách đã đổi

Công nghệ trong khách sạn gồm ba lớp. Lớp trải nghiệm: phòng thông minh, nhận phòng và thanh toán không chạm, chatbot trả lời cả ngày đêm. Lớp vận hành: cảm biến quản lý điện và bảo trì, robot giao đồ, phần mềm tự động hoá việc lặp. Lớp dữ liệu: gom sở thích và hành vi khách để cá nhân hoá, từ nhớ loại gối đến thông điệp đúng thời điểm. Cái giá là dữ liệu cá nhân: theo một trang tóm tắt, Luật số 91/2025/QH15, tên đầy đủ là Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, áp dụng từ ngày 1/1/2026 và trao cho người có dữ liệu các quyền như biết việc xử lý, đồng ý hoặc rút đồng ý, yêu cầu sửa hay xoá [2].

AI được dùng nhiều nhất ở định giá và quản trị doanh thu, dự báo nhu cầu và sự cố dịch vụ, quản lý năng lượng. Nó đáng đầu tư khi tạo khoản tăng doanh thu hoặc giảm chi phí đo được trong mười hai tháng, dữ liệu xuất ra được và không khoá bạn vào một nhà cung cấp. Kỳ vọng của khách cũng đổi: trải nghiệm bản địa, sức khoẻ, bền vững, kết nối số liền mạch, chính sách huỷ linh hoạt, và họ đọc đánh giá, mạng xã hội trước khi chọn, nên hiện diện số là một phần của sản phẩm.

Cách áp dụng từng bước

Bảy bước dưới đây dành cho chủ khách sạn hoặc nhà đầu tư đang cân nhắc đổi hướng, đi từ hiểu mình, thử nhỏ rồi mới cam kết dài hạn, vì phần lớn thiệt hại thật sự đến từ cam kết quá sớm.

  • Bước 1: Viết ra ba lớp, chấm lớp nào bạn mạnh, lớp nào yếu; chọn nhóm khách và độ dài lưu trú điển hình.
  • Bước 2: Với nhượng quyền hay thuê quản lý, xin dự thảo hợp đồng, tính tổng phí ở ba kịch bản công suất.
  • Bước 3: Với căn hộ dịch vụ hay cho thuê ngắn ngày, hỏi cơ quan địa phương về điều kiện lưu trú, thuế, khai báo lưu trú.
  • Bước 4: Thử một mô hình lai ở quy mô nhỏ, đặt ngưỡng đạt từ đầu.
  • Bước 5: Đo điện, nước, rác vài tháng, làm trước việc hoàn vốn nhanh.
  • Bước 6: Chọn công nghệ theo khoản tiết kiệm hoặc doanh thu đo được; ghi rõ ai sở hữu dữ liệu khách.
  • Bước 7: Cuối mỗi quý, đặt kết quả cạnh ngưỡng ban đầu và chọn giữ, sửa hay dừng.

Ví dụ quốc tế ngắn

Wyndham Hotels & Resorts là hãng thiên về nhượng quyền. Báo cáo thường niên (mẫu 10-K) năm tài chính 2024 ghi khoảng 9.300 khách sạn, 903.000 phòng ở hơn 95 quốc gia. Hợp đồng thường dài 10 đến 20 năm; chủ nhượng quyền trực tiếp thường trả phí bản quyền khoảng 5% doanh thu phòng, cộng phí tiếp thị và đặt phòng 3% đến 5% [3]. Cộng hai khoản là khoảng 8% đến 10% doanh thu phòng, chưa kể khoản khác tuỳ hợp đồng.

Ở phía kinh tế chia sẻ, Airbnb tự công bố trên trang giới thiệu (bản cập nhật tháng 5/2026) rằng nền tảng có hơn 9 triệu tin đang hoạt động, hơn 5,5 triệu chủ nhà và hơn 2,5 tỷ lượt khách từ trước đến nay [4]. Đó là số do chính công ty công bố, nhưng đủ để thấy quy mô nguồn cung thay thế mà khách sạn phải tính tới.

Tình huống áp dụng tại Việt Nam

Bài toán tự vận hành hay thuê thương hiệu đã được báo chí trong nước bàn tới. The Leader (21/11/2023) dẫn Savills Việt Nam: dự án nghỉ dưỡng có thương hiệu quản lý nổi tiếng bán với giá bình quân cao hơn 31%, còn giá chào thuê phòng cao hơn từ 30% đến 50% so với dự án khác (không nêu năm). Lãnh đạo Sovico Hospitality nói thuê đơn vị quản lý vận hành chỉ hợp với chủ đầu tư nhỏ, chưa nhiều tên tuổi; còn Vinpearl được bài nêu là đã giao cho Meliá việc quản lý 12 khách sạn và khu nghỉ dưỡng từ đầu năm 2022 [5].

Căn hộ dịch vụ cho thấy lưu trú dài ngày gắn với dòng vốn đầu tư. Báo cáo cuối năm 2024 của Savills Việt Nam, qua Tạp chí Nhà đầu tư (19/2/2025), ghi công suất lấp đầy ở Hà Nội 84%, giá thuê trung bình gần 600.000 đồng/m²/tháng; ở TP.HCM, công suất năm 2024 là 79%, giảm 3 điểm phần trăm theo năm, còn giá thuê giữ ổn định ở 515.000 đồng/m²/tháng. Đại diện Savills gắn nhu cầu ở Hà Nội với khu công nghiệp và vốn FDI, còn ở TP.HCM nhận xét vốn FDI có dấu hiệu chậm lại [6].

Về nhà cho thuê ngắn ngày, TP.HCM đang bàn cách quản lý. Tạp chí Nhà đầu tư (15/5/2026) thuật lại rằng Sở Xây dựng định hướng "không cấm nhưng phải minh bạch", còn Sở Du lịch đề xuất với cơ quan Trung ương: nền tảng chỉ đăng các cơ sở đã có giấy phép kinh doanh, mã số thuế, đủ điều kiện lưu trú, và định kỳ chia sẻ dữ liệu giao dịch cho cơ quan quản lý, cơ quan thuế [7].

Trang hướng dẫn chủ nhà tại Việt Nam của Airbnb nêu bốn nhóm nghĩa vụ: đăng ký kinh doanh, thuế, khai báo lưu trú, phòng cháy và an ninh; trang tự nhận không đầy đủ và không phải tư vấn pháp lý hay thuế [8]. Cả hai nguồn cần đối chiếu với văn bản gốc trước khi dùng làm căn cứ.

Chứng nhận xanh còn hiếm tại Việt Nam. Một bài trên Tạp chí Công Thương (18/9/2025) ghi năm 2023 chỉ có khoảng 45 khách sạn đạt tiêu chuẩn môi trường quốc tế, năm 2024 là 57, chưa tới 0,12% cơ sở lưu trú, nhưng tác giả không nêu nguồn số liệu [1]. Thời báo Tài chính Việt Nam (25/12/2023) thuật lời Chủ tịch Câu lạc bộ Quản lý buồng Việt Nam, dẫn báo cáo của Cục Du lịch quốc gia: cả nước có 41 khách sạn đạt chứng nhận Khách sạn Xanh ASEAN trên hơn 38.000 cơ sở lưu trú [9]. Hai số liệu khác phạm vi và mốc thời gian nên chỉ đọc là vài chục khách sạn.

Sai lầm thường gặp, giới hạn và khi nào không nên dùng

Sai lầm trong các mô hình này thường đến từ hai nguồn: cam kết trước khi đo, và sao chép nguyên hình thức mà quên điều kiện nền của nơi mình. Bốn lỗi dưới đây thường thấy khi duyệt một đề án mới:

  • Ký hợp đồng nhượng quyền hay quản lý chỉ nhìn phí ban đầu, không mô phỏng tổng phí theo doanh thu.
  • Mở khách sạn boutique đẹp nhưng không có kênh bán riêng, để toàn bộ khách đi qua đại lý trực tuyến.
  • Coi nhà cho thuê ngắn ngày là việc nhẹ, bỏ qua đăng ký kinh doanh, thuế, khai báo lưu trú, phòng cháy.
  • Ghép quá nhiều chức năng, quảng bá xanh không có số đo, hoặc mua công nghệ vì xu hướng.

Giới hạn của bài: tài liệu gốc mô tả mô hình ở mức khái quát, gần như không có số liệu chi phí; số liệu trong bài thuộc các năm 2023 đến 2026 và còn thay đổi. Không nên nhượng quyền khi chưa mô phỏng được phí ở mùa thấp điểm, hay cho thuê ngắn ngày trong nhà ở khi chưa xác nhận điều kiện pháp lý.

Kế hoạch thử nghiệm 2–4 tuần và câu hỏi tự kiểm

Trong bốn tuần có thể biết một hướng đi đáng làm tiếp hay không, miễn là cuối mỗi tuần có một kết quả cụ thể để kiểm. Kế hoạch dưới đây phù hợp với chủ khách sạn nhỏ hoặc người quản lý đang tính thêm một mô hình.

  • Tuần 1: Vẽ bản đồ ba lớp, chọn nhóm khách, gom số liệu công suất, giá bình quân, kênh đặt phòng 12 tháng gần nhất.
  • Tuần 2: Xin báo giá hoặc dự thảo từ ít nhất hai hãng hay đơn vị quản lý; hỏi cơ quan địa phương nếu định cho thuê ngắn ngày.
  • Tuần 3: Chạy thử nhỏ (một tầng lưu trú dài ngày, một gói chủ đề hoặc một hạng mục tiết kiệm điện nước), ghi số đo hằng tuần.
  • Tuần 4: So với ngưỡng đặt trước, quyết định mở rộng, chỉnh hay dừng.

Tự hỏi sau bốn tuần: lớp nào nên giữ, lớp nào nên thuê? Tổng phí trả bên ngoài là bao nhiêu phần trăm doanh thu phòng ở mùa thấp điểm? Nếu doanh thu giảm một phần ba, mô hình còn sống không? Câu nào còn phải đoán thay vì đo thì nên thử thêm.

Kết luận

Chuỗi hai phần khép lại ở một ý: khách sạn không còn là một khối duy nhất mà là ba lớp tài sản, vận hành, thương hiệu cùng kênh bán, và mỗi mô hình mới cắt chúng theo cách riêng. Người chọn đúng là người biết lợi thế thật của mình nằm ở lớp nào, thuê phần còn lại với giá đo được và thử nhỏ trước khi cam kết.

Nguồn và phương pháp

Bài này là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ AI, diễn đạt lại bằng lời riêng, không phải bản dịch. Bài dựa trên tài liệu "Super Guide: Hotel Business Models" của Daniel Pereira (The Business Model Analyst, 2022), phần cuối, từ trang 62 đến 124 của bản PDF. Các công ty và tình huống minh hoạ của tài liệu gốc không được chép lại; bài thay bằng ví dụ do người viết nghiên cứu. Bạn nên tìm tài liệu gốc để đọc đầy đủ.

Các dữ kiện về doanh nghiệp, thị trường và pháp luật được đối chiếu với những trang web trong danh mục nguồn đi kèm, đánh số theo thứ tự [1], [2]..., truy cập ngày 20/10/2026; mỗi câu có số liệu hoặc lời phát biểu được đọc lại lần hai để xác nhận người nói và mốc thời gian. Số liệu của Wyndham và Airbnb là công bố của chính hai công ty; số liệu của Savills Việt Nam, của Cục Du lịch quốc gia và của tác giả bài trên Tạp chí Công Thương được nêu qua bài báo, kèm ngày đăng bài.

Điều chưa kiểm chứng về số liệu: báo The Leader không nêu năm của số liệu Savills về giá bán và giá thuê, còn việc Vinpearl giao quản lý cho Meliá chỉ là lời phóng viên tường thuật; tác giả bài trên Tạp chí Công Thương không nêu nguồn số liệu về khách sạn xanh; Thời báo Tài chính Việt Nam không nêu mốc của số 41 khách sạn, vốn do một chủ tịch câu lạc bộ trích từ báo cáo mà người viết chưa đọc; công suất lấp đầy 84% ở Hà Nội không rõ là của quý IV hay cả năm 2024; phép cộng phí 8% đến 10% và các nhận định về lợi ích từng mô hình là suy luận của người viết.

Điều chưa kiểm chứng về quy định: hướng quản lý nhà cho thuê ngắn ngày ở TP.HCM do phóng viên thuật lại; trang hướng dẫn của Airbnb không ghi ngày cập nhật và có chỗ nêu mức thuế đã quá hạn nên bài không dùng; luật dữ liệu cá nhân chỉ được đọc qua trang tóm tắt. Mọi nội dung pháp lý trong bài chưa đối chiếu toàn văn và chưa xác nhận hiệu lực hiện nay.