BDSGPHẠM VĂN THƯNHÀ SÁNG LẬP BDSG
ENTài khoản
Kết nối
Menu
Mô hình kinh doanh · Nội dung có hỗ trợ AI

Mô hình khách sạn truyền thống: RevPAR, chi phí cố định và bài toán hoa hồng OTA (Phần 1/2)

Đăng ngày 23/10/2026

Mục lục bài nghiên cứu
Ảnh đại diện bài Mô hình khách sạn truyền thống: RevPAR, chi phí cố định và bài toán hoa hồng OTA (Phần 1/2)

Tóm tắt và điều cần nhớ

Đây là phần một của chuỗi hai bài về mô hình kinh doanh khách sạn. Phần này bàn về khách sạn truyền thống: cách kiếm tiền, gánh chi phí và bán phòng qua đại lý du lịch trực tuyến (OTA). Phần hai bàn về các cách tổ chức khác, từ nhượng quyền đến nhà cho thuê ngắn ngày.

  • Khách sạn bán thứ không để dành được: phòng trống đêm nay mất hẳn, trong khi phần lớn chi phí vẫn chạy.
  • Doanh thu trên mỗi phòng sẵn có (RevPAR) bằng công suất nhân giá bình quân; lợi nhuận còn tuỳ chi phí cố định và phí kênh bán.
  • OTA đem lại khách và độ phủ, đổi lại là hoa hồng hoặc phần chênh giá, cùng phần lớn dữ liệu khách.
  • Nên chọn kênh theo giá thực nhận sau phí và khả năng đưa khách quay lại đặt trực tiếp.
  • Tại Việt Nam, hạng sao là nhãn pháp lý tự nguyện [1], còn các chuỗi lớn chọn cách phân phối rất khác nhau [2].

Bối cảnh: khách sạn bán thứ không để dành được

Mô hình kinh doanh là bản thiết kế trả lời ba câu hỏi: tạo giá trị cho ai, đưa đến khách bằng đường nào và giữ lại phần tiền nào. Với khách sạn, bản thiết kế phải khớp nhóm khách mục tiêu, vị trí, dịch vụ, chính sách giá, kênh bán và trải nghiệm khi ở. Điều làm khách sạn khác nhiều ngành là hàng bán ra có hạn dùng một đêm.

Phòng không bán được tối nay không bán bù vào ngày mai, trong khi toà nhà, lễ tân trực suốt đêm và bộ phận buồng phòng vẫn phải sẵn sàng. Vì thế khách sạn truyền thống xoay quanh một việc: lấp công suất ở mức giá tốt nhất có thể, rồi gom thêm doanh thu từ ăn uống và dịch vụ. Năm lực đang đổi bài toán: số hoá, cá nhân hoá, bền vững, nhà ở chia sẻ và xu hướng kéo khách về đặt trực tiếp. Phần này bàn lực thứ nhất và thứ năm qua câu chuyện OTA; phần hai bàn các lực còn lại.

Khái niệm cốt lõi và thuật ngữ

Mười thuật ngữ dưới đây xuất hiện xuyên suốt bài. Nên đọc chúng như các biến trong một công thức hơn là từ vựng của ngành, vì phần lớn quyết định về giá và kênh bán đều quy về những biến này.

  • Công suất (occupancy): tỷ lệ phòng đã bán trên số phòng sẵn có.
  • Giá bình quân (ADR, average daily rate): doanh thu phòng chia cho số phòng đã bán.
  • RevPAR: doanh thu phòng trên mỗi phòng sẵn có, bằng công suất nhân ADR.
  • GOPPAR: lợi nhuận hoạt động gộp trên mỗi phòng sẵn có, sau chi phí vận hành.
  • Hệ thống đặt phòng trung tâm (CRS): giữ kho phòng và bảng giá dùng chung cho mọi kênh.
  • Hệ thống quản lý khách sạn (PMS): lo nhận, trả, xếp phòng, hoá đơn và buồng phòng.
  • Hệ thống phân phối toàn cầu (GDS): nối khách sạn với đại lý lữ hành và OTA.
  • Đại lý du lịch trực tuyến (OTA): sàn đặt chỗ đứng giữa khách và khách sạn.
  • Công cụ so sánh giá (metasearch): gom giá nhiều nơi rồi chuyển khách đi đặt nơi khác.
  • Giá ngang bằng (rate parity): cam kết giữ giá ở các kênh không chênh nhau.

Doanh thu của khách sạn: từ công suất và giá đến lợi nhuận trên mỗi phòng

Tiền phòng là nguồn thu chính. Công suất cho biết bán được bao nhiêu phòng, ADR cho biết bán giá nào, và RevPAR gộp hai con số thành một thước so được giữa các khách sạn. Hai khách sạn cùng RevPAR vẫn có thể khác hẳn nhau. Giả định khách sạn A bán nửa số phòng với giá 2 triệu đồng, khách sạn B bán 80% số phòng với giá 1,25 triệu đồng: cả hai có RevPAR 1 triệu đồng, nhưng B phải dọn nhiều phòng hơn, đón nhiều khách hơn và thường trả hoa hồng cho nhiều đơn hơn.

Ăn uống là nguồn thu thứ hai, gồm nhà hàng, quầy bar và tiệc hội nghị, cưới hỏi. Nguồn thu thêm gồm spa, phòng tập bán thẻ hoặc vé ngày, đỗ xe, giặt là và đưa đón. Chỉ số doanh thu ăn uống trên mỗi phòng sẵn có (FBPAR) đo mức đóng góp của ăn uống và chỉ ra chỗ còn tăng được.

GOPPAR trả lời câu hỏi quan trọng nhất: sau chi phí vận hành, trong đó có phí kênh bán, mỗi phòng sẵn có còn lại bao nhiêu lợi nhuận. RevPAR không chứa chi phí, nên giảm giá để đẩy công suất có thể làm RevPAR tăng mà GOPPAR giảm. Nên đặt cả hai chỉ số cạnh nhóm khách sạn cạnh tranh để thấy mình mạnh yếu ở đâu (Hình 1).

Từ công suất và giá đến lợi nhuận trên mỗi phòng
Hình 1. Minh hoạ khái niệm: chuỗi chỉ số từ công suất, giá bình quân đến lợi nhuận trên mỗi phòng sẵn có.

Chi phí cố định, mùa vụ và bảng điểm mạnh yếu

Phần lớn chi phí của khách sạn gắn với cơ sở vật chất chứ không gắn với số phòng bán ra: toà nhà, bảo trì, đội ngũ tối thiểu, hạ tầng. Nhân công thường là khoản lớn. Khi công suất thấp hoặc kinh tế chậm lại, doanh thu giảm nhanh hơn chi phí, còn nhu cầu lại có cao điểm và thấp điểm nối nhau. Bốn đòn bẩy giữ biên lợi nhuận: mua sắm và tồn kho, năng lượng và nước, nhân công, công nghệ cùng tự động hoá.

Bảng điểm mạnh yếu ở Hình 2 gom lại thế đứng của mô hình truyền thống. Điểm mạnh là thương hiệu, khách quen, kinh nghiệm phục vụ và nhiều tiện ích. Điểm yếu là chi phí cố định cao, mùa vụ và khó đổi nhanh. Cơ hội nằm ở phân khúc mới như du lịch sinh thái, chăm sóc sức khoẻ, ở hợp tác với hãng bay, đại lý, điểm tham quan và ở công nghệ. Mối đe doạ gồm chỗ ở thay thế, sức ép hoa hồng của OTA và kỳ vọng khách đổi theo.

Chi phí cố định cao cũng có mặt lợi: khi đã trang trải xong, mỗi đêm bán thêm một phòng trống đóng góp gần hết doanh thu vào lợi nhuận, chỉ trừ chi phí biến đổi như dọn phòng, vật dụng và hoa hồng. Vì vậy giá của những phòng cuối cùng và kênh bán chúng tác động lớn đến lợi nhuận (suy luận của bài).

Bảng điểm mạnh yếu của khách sạn truyền thống
Hình 2. Minh hoạ khái niệm: điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và mối đe doạ của mô hình khách sạn truyền thống.

Ba hạng dịch vụ, các nhóm khách và lời hứa với khách

Khách sạn truyền thống thường chia theo phạm vi dịch vụ. Hạng đầy đủ dịch vụ có nhà hàng, quầy bar, phục vụ tại phòng, phòng tập, hồ bơi và phòng họp, nhắm khách muốn trải nghiệm trọn gói. Hạng dịch vụ chọn lọc giữ phần thiết yếu như lễ tân 24 giờ, buồng phòng và bữa sáng để giá thấp hơn. Hạng tiết kiệm bán phòng sạch, giường tốt, phòng tắm riêng, thường không có nhà hàng hay phòng tập, dành cho khách nhạy cảm về giá.

Trên mỗi hạng, khách sạn còn chọn nhóm khách. Khách công tác cần internet nhanh, phòng họp và vị trí gần khu kinh doanh hoặc sân bay; khách nghỉ dưỡng cần hồ bơi, spa và gần điểm tham quan; gia đình cần phòng thông nhau và khu chơi cho trẻ; khách hạng sang tìm dịch vụ riêng; khách ở dài ngày cần bếp, máy giặt và phòng rộng. Lời hứa với khách gồm phòng ở, dịch vụ và tiện ích, mà mỗi tiện ích thêm vào là một khoản chi phí cố định, nên chỉ đáng giữ khi nhóm khách mục tiêu chịu trả cho nó hoặc khi nó kéo thêm doanh thu ngoài phòng.

Bộ máy phía sau quầy lễ tân và hệ thống đặt phòng

Bên dưới những gì khách thấy là bốn lớp (Hình 3). Lớp dưới cùng là cơ sở vật chất và con người: phòng, sảnh, nhà hàng, tiện ích; lễ tân xử lý yêu cầu và khiếu nại, buồng phòng, bếp, bảo trì, an ninh, cùng quy trình tuyển dụng, đào tạo và đánh giá. Phía trên là hệ thống quản lý khách sạn (PMS), nơi phòng được xếp, hoá đơn được lập và buồng phòng nhận việc.

Trên PMS là hệ thống đặt phòng trung tâm (CRS), giữ một kho phòng và bảng giá dùng chung để phòng vừa bán ở nơi này không còn hiện ở nơi khác. Trên cùng là các kênh bán: website khách sạn, OTA, công cụ so sánh giá, đại lý lữ hành, GDS và khách doanh nghiệp. Bộ phận bán hàng và tiếp thị chạy xuyên các lớp ấy, từ thương hiệu, quản trị giá đến hiện diện trực tuyến.

Các lớp nằm sau một lượt đặt phòng
Hình 3. Minh hoạ khái niệm: bốn lớp từ kênh bán xuống cơ sở vật chất và con người.

Đại lý du lịch trực tuyến: khách sạn nhận gì, trả gì

OTA là nền tảng cho khách đặt khách sạn, vé máy bay, thuê xe và gói du lịch. Họ gom thông tin, xếp giá nhiều khách sạn cạnh nhau, cho đặt và thanh toán, hiển thị đánh giá, hỗ trợ khách và bán chéo dịch vụ khác. Họ lớn nhanh nhờ công nghệ, thói quen so giá trước khi đặt và việc đem lại cho khách sạn nhỏ một độ phủ mà ngân sách tiếp thị riêng không có.

Khách sạn được thêm lượt đặt, hiện diện toàn cầu, dữ liệu thị trường về hành vi đặt phòng và giá đối thủ, khả năng chỉnh giá và phòng gần thời gian thực, cùng công nghệ mà tự xây sẽ tốn kém. Khách sạn mất hoa hồng, quyền tự quyết giá bị bó bởi điều khoản ngang giá, phần lớn dữ liệu khách nằm ở OTA, thương hiệu bị đặt lẫn giữa đối thủ, và khách OTA hay so giá hơn là gắn bó. Càng phụ thuộc, thế mặc cả càng nghiêng về OTA; theo tài liệu nguồn, chuỗi có thương hiệu thường mặc cả được hoa hồng và vị trí hiển thị tốt hơn khách sạn độc lập.

Một câu hỏi hay bị bỏ sót: trong các đơn đặt qua OTA, bao nhiêu là khách mới thật và bao nhiêu là khách vốn sẽ đặt trực tiếp? Chưa có con số này thì mọi so sánh giữa các kênh đều thiếu một vế (suy luận của bài).

Ba cách trả tiền cho kênh bán: hoa hồng, thương nhân, so sánh giá

Mô hình hoa hồng (agency): khách trả tiền cho khách sạn, rồi OTA gửi hoá đơn hoa hồng theo tỷ lệ trên giá trị đặt phòng. Khách sạn chỉ trả khi có đơn nên lợi ích hai bên cùng chiều, nhưng nếu đa số đơn đến từ OTA thì hoa hồng ăn mạnh vào biên lợi nhuận. Mô hình thương nhân (merchant): OTA thu tiền của khách khi đặt, giữ phần chênh rồi chuyển phần còn lại cho khách sạn; khách sạn nhận tiền chắc hơn nhưng ít kiểm soát giá bán lẻ cuối cùng và ít thấy dữ liệu khách.

Báo cáo thường niên của Booking Holdings phân loại doanh thu theo đúng tiêu chí dòng tiền này: doanh thu thương nhân phát sinh khi công ty thu tiền của khách, doanh thu đại lý phát sinh khi không thu, và phần đại lý gần như toàn là hoa hồng đặt chỗ lưu trú của Booking.com [3]. Công cụ so sánh giá không bán phòng mà chuyển khách đi đặt nơi khác; KAYAK, công cụ thuộc Booking Holdings, thu tiền khi chuyển khách cho đối tác và từ vị trí quảng cáo [3]. Khách sạn được hiện diện và thấy giá đối thủ, nhưng bị xếp cạnh đối thủ trong một bảng giá, ít kiểm soát hình ảnh thương hiệu và vẫn phải trả khi muốn có lượt chuyển khách (Hình 4).

Giả định phòng bán 1,2 triệu đồng một đêm, hoa hồng OTA 18% và chi phí kênh trực tiếp 5%. Qua OTA khách sạn thực nhận khoảng 0,98 triệu, qua kênh trực tiếp khoảng 1,14 triệu, chênh khoảng 0,16 triệu mỗi đêm. Vì vậy thước đo để so các kênh là giá thực nhận sau phí, không phải doanh thu gộp.

Ba cách trả tiền cho kênh bán
Hình 4. Minh hoạ khái niệm: so sánh mô hình hoa hồng, mô hình thương nhân và công cụ so sánh giá.

Cách áp dụng từng bước: dùng OTA mà không lệ thuộc

Bảy bước dưới đây gom năm việc cần làm đều tay: chọn nhóm khách hợp với OTA, chỉnh giá và kho phòng theo từng nền tảng, giữ giá nhất quán và thương lượng điều khoản, khai thác dữ liệu của OTA, rồi biến khách OTA thành khách quen đặt trực tiếp (Hình 5).

  • Bước 1: Lấy số 12 tháng gần nhất gồm công suất, ADR, RevPAR, doanh thu ngoài phòng, tách theo kênh.
  • Bước 2: Tính phí thực trả và giá thực nhận mỗi đêm của từng kênh, rồi xếp hạng kênh theo giá thực nhận.
  • Bước 3: Đặt mức trần phụ thuộc OTA riêng cho cao điểm và thấp điểm; dùng OTA để lấp thấp điểm và cơ sở mới.
  • Bước 4: Theo dõi giá trên mọi kênh, đọc kỹ điều khoản giá và hoa hồng, thương lượng mức phí và hỗ trợ tiếp thị.
  • Bước 5: Dùng dữ liệu OTA như tỷ lệ chuyển đổi, mẫu đặt phòng và đánh giá để dự báo nhu cầu và so với đối thủ.
  • Bước 6: Liên lạc sau đặt phòng, mời khách vào chương trình thành viên, để nhân viên nhận ra khách OTA khi lưu trú và có ưu đãi cho lần đặt trực tiếp sau.
  • Bước 7: Chỉ giảm tỷ trọng OTA khi kênh trực tiếp đã có dữ liệu khách và hệ thống quản trị quan hệ khách hàng; mỗi quý đối chiếu với mức trần.
Vòng đưa khách OTA về đặt trực tiếp
Hình 5. Minh hoạ khái niệm: vòng biến khách đặt qua OTA thành khách đặt trực tiếp.

Ví dụ quốc tế ngắn

Booking Holdings vận hành năm thương hiệu hướng tới người dùng là Booking.com, Priceline, Agoda, KAYAK và OpenTable, và báo cáo thường niên ghi doanh thu 26,9 tỷ USD năm 2025 [3]. Báo cáo cũng ghi Ủy ban châu Âu đã chỉ định công ty là bên gác cổng theo Đạo luật Thị trường Kỹ thuật số (DMA), và Booking.com đã thay đổi để đáp ứng lệnh cấm thoả thuận ngang giá của đạo luật này ở Khu vực Kinh tế châu Âu [3]. Nghĩa là ở châu Âu, thoả thuận ngang giá đã bị luật cấm đối với Booking.com. Bài chưa khảo sát quy định tương ứng của Việt Nam, nên hợp đồng với từng OTA vẫn phải đọc kỹ.

Tình huống áp dụng tại Việt Nam

Tại Việt Nam, theo bản Luật Du lịch số 09/2017/QH14 ban hành năm 2017, khách sạn là loại đầu tiên trong tám loại cơ sở lưu trú du lịch và được xếp hạng từ một đến năm sao theo tiêu chuẩn quốc gia. Việc đăng ký xếp hạng là tự nguyện, và quyết định công nhận hạng có thời hạn năm năm [1]. Hạng sao vì vậy là nhãn pháp lý theo tiêu chuẩn, còn ba hạng đầy đủ, chọn lọc, tiết kiệm là cách chia theo phạm vi dịch vụ để thiết kế mô hình; hai cách không thay nhau được (nhận xét của bài).

Về thị trường, theo TTG Asia ngày 29/8/2025, bà Alice Swe của STR trình bày tại hội nghị HORECFEX 2025 ở Đà Nẵng rằng giá phòng bình quân của Việt Nam đang quanh mức 100 USD, ngang Malaysia và Philippines [4]. Phóng viên viết thêm rằng RevPAR còn tăng nhưng mức tăng so với cùng kỳ chậm lại sau đợt hồi phục mạnh 2022–2023, TP.HCM và Hà Nội đã vượt mức giá trước đại dịch, còn công suất Đà Nẵng nửa đầu 2025 cao hơn hai năm trước nhưng chưa về đỉnh trước Covid [4]. Với RevPAR tăng chậm dần, nên tách phần tăng do công suất và phần do giá (gợi ý của bài).

Về kênh bán, một nghiên cứu tình huống dựa trên dữ liệu thứ cấp, đăng ngày 12/5/2026, của ThS. Đỗ Công Nguyên (Đại học Thương mại) nêu OTA chiếm 58,85% lượt đặt phòng toàn quốc năm 2025, hoa hồng của OTA quốc tế là 15%–25% doanh thu mỗi đặt phòng, còn chi phí kênh trực tiếp chỉ 4,25%–4,5% [2]. Cả ba số không gắn với tài liệu cụ thể nào trong bài gốc, nên chỉ nên đọc như cỡ lớn. Nếu lấy chúng làm giả định, chênh giữa hai kênh vào khoảng 10,5 đến 20,75 điểm phần trăm doanh thu (phép tính của bài).

Cũng bài đó so hai chuỗi khách sạn Việt Nam. Theo tác giả, Mường Thanh chọn bốn kênh cốt lõi gồm Booking.com, Agoda, TripAdvisor và Google Business, vì OTA tiếp cận khách mục tiêu hiệu quả hơn việc tự xây nhận thức thương hiệu, nhất là ở tỉnh thứ cấp; Vinpearl kéo khách về website riêng và ứng dụng của hệ sinh thái Vingroup, ghép phòng với vé VinWonders, nhưng khó với khách quốc tế đến lần đầu. Tác giả kết luận không mô hình nào thắng tuyệt đối: dùng OTA để lấp thấp điểm và cơ sở mới, ưu tiên kênh trực tiếp ở cao điểm, và chỉ giảm OTA khi đã có dữ liệu khách cùng hệ thống CRM [2]. Bài không nêu tỷ lệ kênh của từng chuỗi.

Sai lầm thường gặp, giới hạn và khi nào không nên dùng

Phần lớn sai lầm đến từ việc nhìn sai thước đo hoặc đổi kênh khi chưa đo được gì. Khách sạn hay nhìn doanh thu gộp vì đó là con số dễ thấy nhất, rồi quyết định kênh theo cảm giác thay vì theo tiền thực nhận. Bốn lỗi dưới đây dễ gặp nhất.

  • Đánh giá kênh bằng doanh thu gộp, không tính giá thực nhận sau phí.
  • Đẩy công suất bằng giảm giá mà chỉ nhìn RevPAR, không nhìn GOPPAR.
  • Cắt OTA trước khi hệ thống đặt trực tiếp xây xong; tác giả bài nghiên cứu nói trên cảnh báo quyết định này dẫn đến sụt giảm công suất không thể bù đắp [2].
  • Để giá trực tiếp cao hơn giá OTA, hoặc phá điều khoản ngang giá mà chưa đọc hợp đồng.

Giới hạn của bài: tài liệu nguồn mô tả khái quát và gần như không có số đo, các mức phí trong bài là số không rõ nguồn hoặc giả định, và dữ liệu Việt Nam chưa đủ để nói kênh nào tốt hơn cho từng loại khách sạn. Chưa nên đổi cơ cấu kênh nếu chưa tách được doanh thu theo kênh.

Kế hoạch thử nghiệm 2–4 tuần và câu hỏi tự kiểm

Bốn tuần đủ để biết kênh bán hiện tại có đang bào mòn lợi nhuận hay không, nếu mỗi tuần có một sản phẩm đầu ra kiểm được. Lịch dưới đây dành cho chủ khách sạn nhỏ hoặc quản lý đã có số liệu đặt phòng nhưng chưa tách theo kênh.

  • Tuần 1: Gom đơn đặt 12 tháng theo kênh, tính công suất, ADR, RevPAR, tỷ trọng và phí từng kênh.
  • Tuần 2: Tính giá thực nhận mỗi kênh, đọc điều khoản giá và hoa hồng trong từng hợp đồng.
  • Tuần 3: Thử một thay đổi nhỏ có ngưỡng đo trước, như ưu đãi riêng cho người đặt trực tiếp hoặc thư liên lạc sau đặt phòng cho khách OTA.
  • Tuần 4: So kết quả với ngưỡng, rồi quyết định giữ, mở rộng hay dừng.

Tự hỏi sau bốn tuần: kênh nào cho giá thực nhận thấp nhất mà tôi lại phụ thuộc nhiều nhất? Bao nhiêu khách OTA đã để lại liên lạc? Nếu OTA đổi hoa hồng hoặc thuật toán xếp hạng, công suất mùa thấp điểm còn giữ được không?

Kết luận

Khách sạn truyền thống là cỗ máy bán thứ không để dành được trên nền chi phí cố định, nên mọi quyết định xoay quanh ba thứ: lấp công suất, giữ giá và giữ lại phần tiền sau phí kênh. OTA giúp lấp công suất nhanh nhưng đòi hoa hồng và giữ dữ liệu khách, nên bài toán đúng là chọn tỷ trọng hợp lý và xây dần kênh trực tiếp. Phần hai bàn các cách tổ chức khác: nhượng quyền, khách sạn độc lập, lưu trú dài ngày, nhà cho thuê ngắn ngày, mô hình lai, bền vững và công nghệ.

Nguồn và phương pháp

Bài này là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ AI, diễn đạt lại bằng lời riêng, không phải bản dịch. Bài dựa trên tài liệu "Super Guide: Hotel Business Models" của Daniel Pereira (The Business Model Analyst, 2022), phần đầu, từ trang 1 đến 61 của bản PDF (tệp Hotel Business Models). Các ví dụ và nhận định của tài liệu gốc không được chép lại; bài thay bằng phân tích riêng và ví dụ do người viết nghiên cứu. Bạn nên tìm tài liệu gốc để đọc đầy đủ.

Các dữ kiện về doanh nghiệp, thị trường và pháp luật được đối chiếu với những trang web trong danh mục nguồn đi kèm, đánh số theo thứ tự [1], [2]..., truy cập ngày 20/10/2026 và kiểm chứng lần hai bằng cách yêu cầu trích nguyên văn từng câu có số liệu. Các ví dụ số ghi là giả định là số tự dựng, không gắn với doanh nghiệp thật. Số liệu của Booking Holdings là công bố của chính công ty.

Điều chưa kiểm chứng: ba số của bài nghiên cứu trong nước (58,85%, 15%–25%, 4,25%–4,5%) không gắn với tài liệu cụ thể nào ở bài gốc; Luật Du lịch được đọc qua trang thuvienphapluat.vn, chưa đối chiếu toàn văn chính thức, chưa xác nhận hiệu lực hiện nay và chưa biết có sửa đổi sau năm 2017 hay không; số liệu STR chỉ qua tường thuật của TTG Asia; báo cáo Booking Holdings chỉ đọc được phần đầu; các nhận định chung về OTA lấy từ tài liệu nguồn; phép tính chênh 10,5 đến 20,75 điểm phần trăm và các suy luận ghi là của bài do người viết đưa ra.