BDSGPHẠM VĂN THƯNHÀ SÁNG LẬP BDSG
ENTài khoản
Kết nối
Menu
Siêu hướng dẫn · Nội dung có hỗ trợ AI

Phát triển kinh doanh là gì: vai trò, bốn trụ cột và năng lực khác với bán hàng, tiếp thị (Phần 1/7)

Đăng ngày 23/10/2026

Mục lục bài nghiên cứu
Ảnh đại diện bài Phát triển kinh doanh là gì, phần 1 trên 7

Tóm tắt và điều cần nhớ

Trong chuỗi bảy phần về phát triển kinh doanh (business development, viết tắt BD), phần này đặt nền: BD là gì, khác bán hàng và tiếp thị ra sao, gồm những trụ cột nào, vận hành thế nào ở B2B, B2C và doanh nghiệp mới, người làm cần năng lực gì. Các phần sau đi tiếp từ hoạch định, sản phẩm đến vận hành, chỉ số và doanh thu.

  • BD tạo cơ hội mới (thị trường, đối tác, kênh, cách kiếm tiền) để bán hàng có việc chốt; tiếp thị tạo chú ý.
  • Bốn trụ cột: tầm nhìn dài hạn, thực thi, tăng trưởng doanh thu và đổi mới; thiếu một trụ là lệch.
  • B2B dựa vào quan hệ và chu kỳ dài, B2C vào quy mô và trải nghiệm, doanh nghiệp mới vào thử nghiệm nhanh.
  • Dữ liệu và công cụ số giúp chọn, theo dõi cơ hội, không thay được quan hệ và phán đoán.
  • Người làm BD cần đàm phán, giao tiếp, xây quan hệ, giải quyết vấn đề, đọc được CAC và CLV.

Vấn đề: có sản phẩm nhưng thiếu đường ra thị trường

Bài trên website VCCI ngày 10/6/2026 thuật lại hội thảo do Báo Thanh Niên tổ chức: Phó Tổng thư ký VCCI Đậu Anh Tuấn nói bài toán đầu ra là thách thức hàng đầu của doanh nghiệp tư nhân và dẫn một khảo sát (không nêu tên) cho thấy hơn 60% doanh nghiệp coi tìm khách hàng là trở ngại lớn nhất [1]. Bài cũng nêu năm 2025 có 297.500 doanh nghiệp gia nhập và 227.200 rút lui, không kèm nguồn thống kê [1].

Hai con số gia nhập và rút lui không cho biết vì sao doanh nghiệp rời thị trường, nên đừng đọc chúng thành nguyên nhân thất bại. Chúng chỉ gợi một câu hỏi quản trị: trong công ty bạn, ai lo tìm thị trường, đối tác và kênh phân phối mới? Ở doanh nghiệp nhỏ, theo nhận định của người viết (chưa có số liệu), người chủ thường kiêm việc đó: tiếp thị đăng bài, bán hàng chạy theo đơn có sẵn, khoảng trống ở giữa không ai nhận. Phát triển kinh doanh là tên gọi của khoảng trống ấy.

Khái niệm cốt lõi và thuật ngữ

Phát triển kinh doanh hay bị dùng lẫn với bán hàng nên cần thống nhất vài thuật ngữ. Ở Việt Nam, MISA AMIS dịch business development là “phát triển kinh doanh” và mô tả người làm BD như một “cầu nối” giữa tiếp thị và bán hàng [2]; bài này dùng nghĩa rộng hơn, gồm cả việc chọn hướng đi cho công ty.

  • Phát triển kinh doanh (BD): việc tìm, tạo và theo đuổi cơ hội tăng trưởng dài hạn như thị trường, phân khúc, đối tác, kênh, cách kiếm tiền mới.
  • Cơ hội (opportunity): khách hàng, đối tác hoặc thị trường đáng đầu tư công sức và đã biết người quyết định; chưa phải hợp đồng.
  • Khách hàng tiềm năng (lead): người hoặc tổ chức mới bộc lộ sự quan tâm, còn phải sàng lọc rồi mới coi là cơ hội.
  • Đường ống cơ hội (pipeline): danh sách cơ hội xếp theo giai đoạn, từ mới tiếp cận đến đã ký.
  • Đối tác chiến lược: bên có năng lực bổ sung và cùng đi lâu dài, khác đối tác chiến thuật chỉ hợp tác ngắn hạn.
  • Chiến lược và chiến thuật BD: chiến lược trả lời đi đâu, vì sao; chiến thuật trả lời làm gì, khi nào, ai làm.

Phát triển kinh doanh khác bán hàng và tiếp thị ở đâu

Ba chức năng nối tiếp trên cùng một con đường tăng trưởng nhưng trả lời ba câu hỏi khác nhau. Tiếp thị hỏi làm sao để thị trường biết và muốn: thương hiệu, nội dung, quảng cáo, thu khách tiềm năng. Bán hàng hỏi làm sao để chốt: tiếp cận, trình bày, xử lý phản đối, thương lượng, ký. Phát triển kinh doanh hỏi nên mở cánh cửa nào tiếp theo: phân khúc, thị trường, đối tác, kênh hay cách kiếm tiền chưa có trong đường ống.

Khác biệt thể hiện ở bốn điểm. Về thời gian, bán hàng nhìn vào quý này, BD thường chờ nhiều tháng mới thấy kết quả. Về đối tượng, bán hàng gặp người mua, BD gặp thêm đối tác, nhà phân phối, cơ quan quản lý và các bộ phận nội bộ. Về thước đo, bán hàng tính doanh thu và tỷ lệ chốt, BD tính chất lượng đường ống và số đối tác sinh ra doanh thu. Về kỹ năng, chốt đơn khác với dựng thoả thuận đôi bên cùng lợi.

Sự phân biệt này dùng để chẩn đoán. Giả định một công ty nội thất có mười khách tiềm năng mỗi tháng, chốt được năm, nhưng gần như toàn là chủ nhà phố: bán hàng và tiếp thị ổn, tăng trưởng chững vì chưa có nhóm khách hay đối tác mới như nhà thầu, chủ đầu tư căn hộ; đó là việc của BD. Còn nếu khách đông mà chỉ chốt được một hai người, chỗ cần sửa là bán hàng hoặc chất lượng khách được kéo về.

So sánh ba chức năng tiếp thị, phát triển kinh doanh và bán hàng theo câu hỏi, việc chính và đầu ra
Hình 1. Ba chức năng nối tiếp trên một con đường tăng trưởng, mỗi chức năng trả lời một câu hỏi riêng (minh hoạ khái niệm).

Bốn trụ cột và cách giữ chiến lược, chiến thuật đi cùng nhau

Công việc BD gồm bốn trụ cột. Trụ chiến lược là nghiên cứu thị trường, đối thủ, xu hướng, rồi chọn liên minh dài hạn như liên doanh, nhà cung cấp hay hệ sinh thái. Trụ chiến thuật là thực thi: tiếp cận, kết nối, biến thoả thuận với đối tác thành doanh thu. Trụ doanh thu quyết định cách kiếm tiền: định giá, thuê bao, cấp phép, bán thêm. Trụ đổi mới giữ cho công ty thử nghiệm nhỏ, học nhanh và hợp tác với bên có công nghệ hay thị trường mới.

Hai trụ đầu bổ sung nhau như hai nửa của một động cơ. Chỉ có chiến lược thì kế hoạch nằm trên giấy, như kế hoạch xuất khẩu không ai lo đối tác địa phương và kênh bán. Chỉ có chiến thuật thì thắng nhỏ liên tục nhưng không ai trả lời chuyện giữ khách, nhân rộng và tạo khác biệt. Muốn nối hai nửa: giữ tầm nhìn nhưng đổi hướng theo kết quả, đặt chung một mục tiêu cho mọi bộ phận, và đưa kết quả chiến thuật về sửa chiến lược.

Có thể biến điều đó thành một vòng bốn việc để căn chỉnh BD với chiến lược công ty: làm rõ mục tiêu công ty bằng con số; chọn cơ hội phục vụ trực tiếp mục tiêu; phối hợp tiếp thị, bán hàng, tài chính, sản phẩm quanh từng cơ hội; rồi đo và chỉnh bằng giá trị vòng đời khách, tỷ lệ chuyển đổi, hiệu quả đầu tư vào đối tác. Ví dụ giả định: mục tiêu là tăng một phần ba doanh thu từ khách mới trong 12 tháng; cơ hội không góp được vào mức đó, dù hấp dẫn, nên xếp sau.

Vòng bốn việc căn chỉnh phát triển kinh doanh với chiến lược công ty
Hình 2. Vòng căn chỉnh BD với chiến lược công ty: mục tiêu, cơ hội, phối hợp, đo và chỉnh (minh hoạ khái niệm).

B2B, B2C và doanh nghiệp mới: cùng nguyên lý, khác trọng tâm

Trong B2B, người mua là một nhóm: người dùng, người duyệt ngân sách, bộ phận mua hàng, đôi khi cả pháp chế. Hợp đồng lớn, chu kỳ dài, nên BD sống bằng uy tín chuyên môn và quan hệ: nghiên cứu điển hình, nội dung chuyên ngành, giới thiệu từ khách cũ, đàm phán điều khoản. Chứng minh mình giải đúng vấn đề của ngành khách thường quan trọng hơn giá thấp.

Trong B2C, quyết định mua nhanh và thiên về cảm xúc, tiện lợi, nên BD hướng tới quy mô và trải nghiệm: tiếp cận nhiều người qua kênh số, sàn thương mại điện tử, người có ảnh hưởng, cá nhân hoá bằng dữ liệu. Việc của BD thường là mở thêm kênh và đối tác để chạm tới lượng lớn người mua với chi phí hợp lý.

Doanh nghiệp mới chưa có uy tín lẫn dữ liệu, nên phải chứng minh giá trị nhanh bằng một bản đủ dùng để thử thị trường (sản phẩm khả thi tối thiểu, MVP), nghe phản hồi, đổi hướng khi cần, đồng thời tìm vốn và đối tác. BD ở giai đoạn này gần với kiểm nghiệm giả thuyết: ai là khách đầu tiên, họ trả tiền cho vấn đề nào, kênh nào rẻ nhất để đến họ.

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam không nằm gọn trong một ô: nhà sản xuất thực phẩm bán qua đại lý và siêu thị là B2B ở chặng đầu nhưng phải thắng người mua cuối ở chặng sau. Hãy xác định ai thực sự quyết định thương vụ, làm theo cách của người đó, rồi bổ sung cho chặng còn lại.

So sánh trọng tâm của BD trong B2B, B2C và doanh nghiệp mới
Hình 3. Trọng tâm của BD khác nhau theo bối cảnh B2B, B2C và doanh nghiệp mới (minh hoạ khái niệm).

Dữ liệu và công nghệ thay đổi cách tìm cơ hội

Cách làm BD đã chuyển từ quan hệ cá nhân, sự kiện và trực giác sang dữ liệu và kênh số. Trước đây mở thị trường mới thường cần có mặt tại chỗ, nhờ người quen dẫn đường, quyết định bằng kinh nghiệm. Nay có thể đo nhu cầu bằng dữ liệu tìm kiếm và bán hàng, thử thị trường qua sàn thương mại điện tử hay phần mềm đám mây trước khi mở văn phòng, chọn đối tác theo hệ sinh thái thay vì chào hàng đại trà.

Dữ liệu phục vụ BD ở ba lớp: thông tin thị trường (báo cáo ngành, phân tích đối thủ, lắng nghe mạng xã hội, phỏng vấn khách), chọn cơ hội (chấm điểm khách tiềm năng, phân tích thắng thua để thấy mẫu lặp lại), theo dõi (bảng chỉ số, thử nghiệm A/B, họp rà soát). Với doanh nghiệp nhỏ, bảng tính bốn cột là đủ bắt đầu: nguồn cơ hội, giai đoạn, ngày liên hệ cuối, lý do thắng hoặc thua.

Công cụ có giới hạn: CRM (sổ ghi chép điện tử về từng khách và từng cuộc trao đổi), chatbot hay chấm điểm tự động chỉ hữu ích khi dữ liệu được nhập đều và có người dùng kết quả để hành động. Nên tự động hoá phần lặp như nhắc theo dõi, ghi chép họp, và giữ tay người cho đàm phán, xây niềm tin và khách quan trọng.

Năng lực và tư duy của người làm phát triển kinh doanh

Đàm phán trong BD hướng tới thoả thuận đôi bên cùng lợi và để ngỏ cho lần sau: hỏi để hiểu lợi ích thật phía sau lập trường, chuẩn bị trước nhu cầu và giới hạn của đối phương, lắng nghe nhiều hơn nói. Giao tiếp đổi theo đối tượng: lãnh đạo và nhà đầu tư cần kết quả và giá trị dài hạn, khách hàng cần lời giải rõ ràng, đối tác cần minh bạch về lợi ích chung; văn hoá và ngành nghề đòi giọng điệu khác.

Xây quan hệ là kỷ luật chứ không phải tài xã giao: chọn lọc người cần gặp, mang lại giá trị trước, theo dõi đều, giữ lời hứa. Giải quyết vấn đề bắt đầu bằng tìm nguyên nhân gốc thay vì chữa triệu chứng: doanh số giảm do giá, hình ảnh thương hiệu hay thị trường? Rồi nhìn từ nhiều phía, tận dụng thế mạnh sẵn có, thử nhỏ trước khi mở rộng. Khi thiếu thông tin mà vẫn phải quyết, hãy đánh giá rủi ro thực tế, chọn nhanh, nói rõ lý do.

Về tư duy, người làm tốt có ba nét: học liên tục và xin phản hồi, chịu được từ chối và thay đổi bất ngờ, chủ động tìm cơ hội. Ở cấp tổ chức, thích nghi cần cơ cấu cụ thể: lãnh đạo bình tĩnh khi bất định, văn hoá coi thất bại là dữ liệu, quy trình đổi hướng được, nguồn thu không dồn vào một thị trường.

Sơ đồ bộ năng lực của người làm phát triển kinh doanh
Hình 4. Bộ năng lực và tư duy của người làm BD (minh hoạ khái niệm).

Năng lực tài chính: vài chỉ số cần đọc được

Người làm BD cần đọc vài chỉ số để biết thương vụ có đáng làm. CAC (chi phí thu hút khách) bằng tổng chi bán hàng và tiếp thị trong kỳ, chia cho số khách mới có được trong kỳ đó. Giá trị vòng đời khách (CLV) là mức khách đóng góp suốt thời gian gắn bó; khi so với CAC nên tính theo lợi nhuận gộp, không theo doanh thu. Tốc độ đốt tiền (burn rate) là tiền mặt chi mỗi tháng; thời gian còn tiền (runway) là tiền mặt hiện có chia cho tốc độ đó. Tỷ suất hoàn vốn (ROI) là lãi ròng của một khoản đầu tư chia cho chi phí bỏ ra.

Giả định một công ty phần mềm nhỏ chi 6 triệu đồng mỗi tháng cho bán hàng và tiếp thị và có thêm 3 khách; vậy mỗi khách mới tốn 2 triệu đồng. Mỗi khách trả 1 triệu đồng một tháng, ở lại trung bình 8 tháng, biên lợi nhuận gộp một nửa, nên CLV theo lợi nhuận gộp là 4 triệu đồng, gấp đôi CAC. Có 90 triệu đồng tiền mặt, đốt 15 triệu mỗi tháng thì còn chạy 6 tháng. Một thoả thuận đối tác làm CAC tăng mà không kéo dài thời gian khách ở lại sẽ làm tỷ lệ này xấu đi; BD cần thấy trước khi ký.

Mô hình kiếm tiền cũng quyết định kiểu thương vụ: thuê bao cần giữ khách lâu, freemium cần nhiều người dùng miễn phí để một phần nâng cấp, thu phí theo giao dịch cần khối lượng lớn, quảng cáo cần lượng người dùng đủ hấp dẫn nhà tài trợ.

Cách áp dụng từng bước

Sáu bước sau phù hợp với doanh nghiệp chưa có người chuyên trách BD; một chủ doanh nghiệp hay một nhóm nhỏ có thể hoàn tất trong một quý. Mỗi bước để lại một sản phẩm cụ thể trên giấy cho buổi họp sau đối chiếu.

  • Bước 1: Chẩn đoán. Đếm khách tiềm năng mỗi tháng, tỷ lệ chốt, doanh thu theo nhóm khách, kênh, khu vực; đầu ra là một trang kết luận đang thiếu cơ hội mới, năng lực chốt hay sự chú ý của thị trường.
  • Bước 2: Mục tiêu. Chốt mục tiêu 12 tháng bằng một hoặc hai con số; đầu ra là luận điểm tăng trưởng viết thành một câu.
  • Bước 3: Danh sách. Lập 5 đến 10 cơ hội (thị trường, phân khúc, đối tác, kênh, mô hình doanh thu) và chấm theo ba tiêu chí: hợp mục tiêu, sức hấp dẫn, khả năng làm được.
  • Bước 4: Chọn thử. Giữ 2 hoặc 3 cơ hội cho một quý, mỗi cơ hội có người phụ trách, chỉ số, hạn chót, ngân sách tối đa.
  • Bước 5: Đường ống. Dựng bảng tính hoặc CRM; họp 30 phút mỗi tuần cùng bán hàng, tiếp thị, tài chính, sản phẩm.
  • Bước 6: Rà soát. Ghi thắng, thua và lý do cho từng cơ hội; cuối quý quyết định tiếp tục, chỉnh hay dừng.

Bộ biểu mẫu đi kèm là tệp in 40 trang gồm trang bìa và 39 tờ trắng đen để điền tay, chia thành bốn nhóm: phân tích (5C, PESTLE, SWOT, năm lực lượng cạnh tranh), hoạch định (khung chiến lược theo quý, xếp ưu tiên), khách hàng và thương hiệu, vận hành và đối tác. Tờ hoạch định hợp bước 2, tờ xếp ưu tiên hợp bước 3, tờ theo dõi tuần hợp bước 5.

Sáu bước áp dụng phát triển kinh doanh trong một quý
Hình 5. Sáu bước áp dụng BD cho doanh nghiệp chưa có người chuyên trách (minh hoạ quy trình).

Tình huống áp dụng tại Việt Nam

Tại Việt Nam, một cách mô tả công việc BD có thể thấy ở bài của MISA AMIS (đăng 8/3/2022, cập nhật 17/6/2025): tìm cơ hội kinh doanh mới như thị trường, xu hướng, khách hàng; lập và liên tục mở rộng danh sách khách tiềm năng; đàm phán giá với nhà cung cấp và khách hàng; lập kế hoạch chiến dịch bán hàng; báo cáo lên quản lý [2]. Danh sách gộp việc tạo cơ hội với việc triển khai bán hàng, nên doanh nghiệp tuyển BD cần ghi rõ đâu là tạo cơ hội, đâu là chốt, để thước đo không chỉ là doanh số quý.

Về mở thị trường ngoài nước, Movitel là ví dụ của một doanh nghiệp Việt Nam. Theo bản tin của Thông tấn xã Việt Nam (VNA) đăng ngày 29/6/2023 trên trang tiếng Anh của Báo Quân đội nhân dân, Movitel là liên doanh giữa Viettel và công ty SPI của Mozambique, chính thức cung cấp dịch vụ từ tháng 5/2012 và phủ sóng tới 92% dân số, 90% diện tích đất nước [3]. Bản tin nhấn mạnh vùng phủ rộng và dịch vụ chất lượng, giá phải chăng, nhưng không nêu tỷ lệ góp vốn hay các quyết định tạo ra kết quả ấy [3]; vì vậy nó chỉ minh hoạ hình thức thâm nhập thị trường (market entry) qua đối tác địa phương, không phải công thức.

Bài toán đầu ra mà VCCI nêu ở phần đầu [1] gợi một việc BD cụ thể cho doanh nghiệp nhỏ trong quý tới. Bạn có thể liệt kê khách hiện có theo ngành và khu vực, xem doanh thu dồn vào đâu, rồi chọn một nhóm khách hoặc đối tác phân phối chưa khai thác để thử trong bốn tuần.

Sai lầm thường gặp, giới hạn và khi nào không nên dùng

Trục trặc khi triển khai BD thường nằm ở khâu phân công và đo lường hơn là ở công cụ. Danh sách dưới đây nên được rà trước khi tuyển người hoặc mua phần mềm; hai mục cuối nêu giới hạn của chính bài này.

  • Gọi bán hàng là phát triển kinh doanh rồi chỉ đo bằng doanh thu quý, nên việc mở thị trường và đối tác luôn bị xếp sau.
  • Theo đuổi cơ hội hấp dẫn nhưng lệch mục tiêu công ty vì không có tiêu chí loại bỏ bằng văn bản.
  • Ký thoả thuận đối tác để lấy hình ảnh mà không có người kích hoạt thành doanh thu.
  • Giới hạn: bài dựa trên một tài liệu tổng quát nhiều ví dụ công nghệ toàn cầu, còn vốn, nhân sự, thị trường của doanh nghiệp nhỏ Việt Nam khác nhiều; các số liệu phổ biến về tỷ lệ khởi nghiệp thất bại bị bỏ vì chưa kiểm được nguồn.
  • Chưa nên đầu tư thêm cho BD nếu chưa có khách quay lại trả tiền lần hai hoặc năng lực giao hàng đã kín; hãy sửa nền trước.

Kế hoạch thử nghiệm 2-4 tuần

Bốn tuần đủ để có bộ số nền và hai thử nghiệm nhỏ mà không cần mua công cụ mới. Hãy chỉ định một người điều phối; đại diện bán hàng, tiếp thị và tài chính tham dự các buổi họp ngắn, mọi quyết định ghi vào một trang giấy.

  • Tuần 1: lấy dữ liệu khách của 12 tháng qua, tính tỷ lệ chốt và doanh thu theo nhóm khách; viết mục tiêu và luận điểm tăng trưởng.
  • Tuần 2: lập và chấm điểm danh sách cơ hội; chọn hai cơ hội, đặt chỉ số, người phụ trách, ngân sách trần.
  • Tuần 3: liên hệ ít nhất 10 đối tượng cho mỗi cơ hội, ghi phản hồi và lý do từ chối.
  • Tuần 4: họp rà soát một giờ; quyết định tiếp tục, chỉnh hay dừng, và ghi bài học.

Cuối bốn tuần, hãy tự kiểm bằng hai câu hỏi: nếu khách lớn nhất rời đi tháng này, công ty còn nguồn khách nào, và ai có tên trên việc tìm thị trường và đối tác mới? Nếu chưa trả lời được, bước kế tiếp là điền hai chỗ trống đó.

Kết luận

Phát triển kinh doanh là khâu tạo cơ hội nằm giữa chiến lược và bán hàng; nó chỉ hiệu quả khi gắn với mục tiêu công ty, có người chịu trách nhiệm và được đo bằng chất lượng đường ống chứ không chỉ doanh số quý. Phần tiếp theo (phần 2) đi tiếp bộ kỹ năng với sáng tạo, quản lý thời gian, tự đánh giá và học tập liên tục; sau đó sang hoạch định với nghiên cứu thị trường, SWOT, PESTLE, mục tiêu SMART; cuối cùng là phát triển sản phẩm và đổi mới, từ ý tưởng, bản thử đến ra mắt.

Nguồn và phương pháp

Bài là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ AI, diễn đạt lại bằng lời riêng, không phải bản dịch. Bài dựa trên tài liệu Business Development EXPLAINED của Business Explained (2025), phần 1 trong 7 phần, tương ứng các trang 1 đến 87, và mô tả bộ biểu mẫu in đi kèm Business Development Printable Sheets Pack (40 trang). Ví dụ Việt Nam và minh hoạ do người viết bổ sung. Các nguồn web được truy cập ngày 21/10/2026 giờ Việt Nam (20/10/2026 theo giờ UTC).

Điều chưa kiểm chứng: khảo sát được ông Đậu Anh Tuấn dẫn không có tên, số doanh nghiệp gia nhập và rút lui không kèm cơ quan thống kê; số liệu Movitel lấy từ một bản tin năm 2023, chưa đối chiếu với báo cáo của doanh nghiệp; mô tả công việc BD là của một nhà cung cấp phần mềm, ngày cập nhật lấy từ siêu dữ liệu trang; mọi ví dụ số ghi giả định là tự dựng, và công thức CAC, CLV, ROI là công thức phổ biến, không phải số liệu của doanh nghiệp nào. Bạn đọc nên tìm tài liệu gốc để đọc đầy đủ, vì bài này chỉ chọn lọc và diễn giải các ý chính.