BDSGPHẠM VĂN THƯNHÀ SÁNG LẬP BDSG
ENTài khoản
Kết nối
Menu
Siêu hướng dẫn · Nội dung có hỗ trợ AI

Quản trị tài chính cho doanh nghiệp nhỏ: dòng tiền, ngân sách, đầu tư, cơ cấu vốn, rủi ro và bộ biểu mẫu

Đăng ngày 23/10/2026

Mục lục bài nghiên cứu
Ảnh đại diện bài hướng dẫn quản trị tài chính: bốn câu hỏi theo thứ tự

Tóm tắt và điều cần nhớ

Quản trị tài chính là kỷ luật trả lời các câu hỏi về tiền: đủ trả nợ đến hạn không, nên đầu tư vào đâu, vốn lấy từ nguồn nào, lợi nhuận giữ hay chia. Bài là bản đồ tổng quan cho chủ doanh nghiệp và quản lý tại Việt Nam, kèm cách dùng bộ biểu mẫu đi kèm.

  • Lãi trên báo cáo chưa phải tiền trong két: theo dõi dòng tiền song song với lợi nhuận.
  • Một chỉ số chỉ có nghĩa khi so với kỳ trước, với ngành và với ngưỡng bên cho vay đặt ra.
  • Ngân sách là vòng lặp: lập, thực hiện, so sánh, giải thích chênh lệch rồi chỉnh.
  • Đầu tư quy về dòng tiền chiết khấu về hiện tại; NPV, IRR và hoàn vốn trả lời những câu hỏi khác nhau.
  • Nợ khuếch đại cả lãi lẫn lỗ; rủi ro cần được gọi tên và đo trước khi mua công cụ phòng ngừa.

Quản trị tài chính trả lời bốn câu hỏi, theo thứ tự ưu tiên

Quản trị tài chính là lập kế hoạch, điều phối và theo dõi nguồn tiền để đạt mục tiêu của tổ chức. Công việc ấy gom được vào bốn câu hỏi: tiền mặt có kịp thanh toán các khoản sắp đến hạn không (vốn lưu động), nên bỏ vốn vào đâu (đầu tư), vốn đến từ nguồn nào (cơ cấu vốn), lợi nhuận giữ hay chia (cổ tức). Kế hoạch và quản trị rủi ro chạy xuyên suốt cả bốn.

Thứ tự trên là lập luận của bài, không phải quy tắc của nguồn. Với doanh nghiệp nhỏ, câu hỏi đầu mang tính sống còn: thiếu tiền vài tuần có thể làm sụp một dự án sinh lời tốt. Giáo trình thường đặt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận hoặc giá trị cổ đông; hai mục tiêu đi kèm là luôn đủ tiền và tuân thủ pháp luật. Tài chính còn phải làm việc cùng bán hàng, mua hàng, vận hành, nơi sinh ra giả định đứng sau mỗi con số.

Sơ đồ các mảng của quản trị tài chính quanh một trung tâm
Hình 1. Bốn câu hỏi cùng kế hoạch và rủi ro: minh hoạ khái niệm.

Ba báo cáo và năm họ chỉ số: đọc để quyết định, không để thuộc lòng

Bảng cân đối kế toán chụp tình trạng tại một ngày: tài sản bằng nợ phải trả cộng vốn chủ sở hữu. Báo cáo kết quả kinh doanh kể cả kỳ: từ doanh thu trừ dần giá vốn, chi phí hoạt động, lãi vay và thuế để ra lãi ròng. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ chia dòng tiền theo ba nguồn: kinh doanh, đầu tư, tài chính. Mỗi báo cáo cho thấy một góc khác, nên doanh nghiệp bán chịu nhiều có thể lãi trên giấy mà tiền vẫn cạn.

Chỉ số tài chính gom thành năm họ: sinh lời (biên lợi nhuận, ROA, ROE); thanh khoản (hệ số thanh toán hiện hành bằng tài sản ngắn hạn chia nợ ngắn hạn, hệ số nhanh loại hàng tồn kho ra); hiệu quả (vòng quay hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả, tài sản); đòn bẩy (nợ trên vốn chủ, nợ trên tài sản, khả năng trả lãi bằng lợi nhuận trước lãi vay và thuế); giá trị thị trường (P/E, P/B), chỉ dành cho công ty có cổ phiếu giao dịch.

Cách đọc quyết định giá trị của chỉ số: so với kỳ trước để thấy xu hướng, so với cùng ngành vì cơ cấu mỗi ngành khác nhau, và so với ngưỡng ngân hàng ghi trong hợp đồng vay. Ví dụ giả định: một cửa hàng vật liệu xây dựng nhỏ có hệ số thanh toán hiện hành bằng 2, nhưng phần lớn là hàng tồn kho khó bán và nợ nhà thầu chưa thu, cần đọc kèm hệ số nhanh và vòng quay khoản phải thu.

Năm họ chỉ số tài chính và câu hỏi của từng họ
Hình 2. Năm họ chỉ số và câu hỏi của mỗi họ: minh hoạ khái niệm.

Kế hoạch, ngân sách và dự báo: một vòng lặp chứ không phải một tệp

Kế hoạch tài chính đi qua sáu việc: đánh giá hiện trạng, đặt mục tiêu, soạn kế hoạch, thực hiện, theo dõi, điều chỉnh. Ngân sách là kế hoạch lượng hoá cho một kỳ: giao nhóm phụ trách, ước tính thu chi từ số liệu quá khứ và xu hướng thị trường, soạn dòng chi tiết rồi trình duyệt. Hãy coi nó là giả thuyết kiểm tra được, không phải lời cam kết.

Kiểm soát ngân sách là phần hay bị bỏ quên: so thực tế với kế hoạch, tìm chênh lệch, hỏi vì sao rồi sửa; mỗi tháng nên dành một buổi cho vài chênh lệch lớn nhất. Ngân sách gốc không (zero-based budgeting) buộc biện minh lại mọi khoản chi từ đầu mỗi kỳ; áp cho cả doanh nghiệp thì nặng, nhưng hợp lý cho một hai nhóm chi hay phình ra như vận chuyển.

Dự báo có năm kỹ thuật: phân tích xu hướng, hồi quy (như quan hệ giữa chi quảng cáo và doanh thu), chuỗi thời gian, kịch bản và mô phỏng Monte Carlo. Dữ liệu ít thì nên dùng cách đơn giản: xu hướng cộng ba kịch bản nền, xấu, tốt hữu ích hơn mô phỏng cần nhiều dữ liệu; mô hình bảng tính chỉ tốt bằng giả định đưa vào.

Vòng lặp kế hoạch, thực hiện, so sánh và điều chỉnh ngân sách
Hình 3. Vòng kiểm soát ngân sách: minh hoạ khái niệm.

Vốn lưu động: tiền, công nợ phải thu và tồn kho

Vốn lưu động là tiền doanh nghiệp cần để trả các khoản ngắn hạn đúng hạn. Quản lý tiền mặt gồm dự báo dòng tiền, đặt số dư mục tiêu và điều khiển luồng vào ra; tiền nhàn rỗi nên nằm ở công cụ ngắn hạn ít rủi ro, ưu tiên thanh khoản và an toàn hơn lãi.

Khoản phải thu cần bốn khâu: chính sách tín dụng (điều kiện thanh toán, hạn mức, tiêu chí đánh giá khách), lập hoá đơn nhanh, nhắc nợ, ghi nhận tiền thu đúng khách đúng hoá đơn; mục tiêu là rút ngắn khoảng cách giữa giao hàng và nhận tiền mà không mất khách. Với tồn kho, giao hàng đúng lúc (JIT) giảm chi phí kho nhưng cần nhà cung cấp tin cậy; lượng đặt hàng kinh tế (EOQ) cân chi phí đặt hàng với chi phí giữ hàng.

Ba mảng nối nhau qua chu kỳ chuyển đổi tiền mặt: số ngày tồn kho cộng số ngày thu tiền trừ số ngày trả nhà cung cấp. Ví dụ giả định: một cửa hàng thuốc kéo hạn trả nhà cung cấp thêm 5 ngày, hoặc giảm tồn kho 5 ngày bán, đều rút chu kỳ 5 ngày và giải phóng tiền mà không cần vay; kéo hạn trả quá mức lại làm hỏng quan hệ mua hàng.

Quyết định đầu tư: quy mọi dòng tiền về hiện tại

Một đồng nhận hôm nay đáng giá hơn một đồng nhận năm sau vì ba lẽ: có thể sinh lời, lạm phát bào mòn sức mua, và tiền chưa nhận luôn có rủi ro. Giá trị hiện tại (present value) là tiền tương lai chiết khấu về hôm nay; giá trị tương lai (future value) là tiền hôm nay sau khi sinh lãi.

Thời gian hoàn vốn cho biết bao lâu lấy lại vốn gốc, nhưng không tính giá trị thời gian của tiền và dòng tiền sau mốc hoàn vốn. Giá trị hiện tại ròng (NPV) cộng các dòng tiền đã chiết khấu rồi trừ vốn bỏ ra; dương nghĩa là dự án tạo thêm giá trị, tính bằng đồng. Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) là mức chiết khấu làm NPV bằng không, dự án đạt khi IRR cao hơn chi phí vốn, nhưng có thể không có đáp số duy nhất khi dòng tiền đổi dấu. Chỉ số sinh lời (PI) là giá trị hiện tại dòng thu chia vốn bỏ ra, nhận khi trên một; IRR điều chỉnh (MIRR) giả định tái đầu tư ở chi phí vốn, thực tế hơn IRR.

Ví dụ giả định, đơn vị trăm triệu đồng: một xưởng nhựa cân nhắc hai máy cùng giá 10. Máy A mang về 4, 4, 4 rồi 3 trong bốn năm, máy B chỉ 6 và 5 trong hai năm. Hoàn vốn của A là 2,5 năm, của B là 1,8 năm, nhưng với mức chiết khấu mười hai phần trăm, NPV của A khoảng dương 1,5, của B khoảng âm 0,7: hoàn vốn nhanh chưa chắc tốt hơn.

Dòng tiền ước tính là chỗ yếu nhất nên cần thử độ nhạy: đổi từng yếu tố như giá bán, sản lượng, lãi suất để xem NPV đổi bao nhiêu, rồi dựng kịch bản. Rủi ro cao hơn đòi mức chiết khấu cao hơn, nên NPV thấp đi. Mức chiết khấu thường là chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC), tức chi phí nợ sau thuế và chi phí vốn chủ nhân với tỷ trọng từng loại vốn; công ty niêm yết ước tính chi phí vốn chủ bằng CAPM (lãi suất phi rủi ro cộng beta nhân phần bù rủi ro thị trường), còn doanh nghiệp nhỏ có thể lấy lãi vay cộng phần bù rủi ro.

Bảng so sánh các phép đo khi xét một khoản đầu tư
Hình 4. Mỗi phép đo trả lời một câu hỏi khác nhau: tổng hợp khái niệm.

Cơ cấu vốn, đòn bẩy và cổ tức: vay bao nhiêu, chia bao nhiêu

Cơ cấu vốn là tỷ trọng nợ và vốn chủ sở hữu dùng để tài trợ hoạt động. Nợ rẻ hơn vì lãi vay được trừ khi tính thuế (trong giới hạn luật cho phép), nhưng buộc trả gốc và lãi đúng hạn dù kinh doanh ra sao; vốn cổ phần không có hạn trả nhưng làm loãng quyền sở hữu. Cơ cấu tối ưu là điểm cân bằng, không phải công thức, và dịch chuyển cùng dòng tiền, tăng trưởng, tài sản bảo đảm.

Năm lý thuyết trả lời năm câu hỏi. Modigliani-Miller: nếu một số giả định được thoả, giá trị doanh nghiệp không phụ thuộc cách chia nợ và vốn [1]. Đánh đổi: cân lợi ích thuế của nợ với chi phí phá sản kỳ vọng [2]. Thứ tự ưu tiên: vốn nội bộ, rồi nợ, cuối cùng phát hành cổ phiếu [2]. Tín hiệu: theo mô hình tách biệt, doanh nghiệp tốt phát hành nợ, doanh nghiệp yếu phát hành cổ phiếu [2]. Đại diện: người quản lý không nhất thiết hành động vì lợi ích cổ đông [2]. Thực nghiệm thường thấy lợi nhuận và nợ nghịch chiều, điều không ủng hộ thuyết đánh đổi [2].

Đòn bẩy tài chính là dùng nợ để nâng lợi nhuận trên vốn chủ, nhưng cũng khuếch đại khoản lỗ vì nợ vẫn phải trả khi lãi giảm. Đòn bẩy quá thấp cũng có giá vì bỏ lỡ tăng trưởng. Câu hỏi thực dụng: nếu doanh thu giảm một phần ba, dòng tiền còn trả nổi lãi vay không?

Chính sách cổ tức quyết định phần lợi nhuận chia ra và phần giữ lại tái đầu tư; bảy yếu tố chi phối là lợi nhuận, nhu cầu vốn, thanh khoản, thuế, kỳ vọng cổ đông, ràng buộc pháp lý và thông lệ ngành. Cổ tức không ảnh hưởng giá trị khi thị trường hoàn hảo; thuyết chim trong tay nói nhà đầu tư ưa khoản chắc chắn hôm nay; thuyết ưa thuế cho rằng, do cách đánh thuế, nhà đầu tư nên ưa lãi vốn hơn cổ tức [3], kết luận phụ thuộc chế độ thuế từng nước. Quy định ở Việt Nam nằm ở mục sau.

Rủi ro tài chính, phái sinh và tỷ giá

Rủi ro tài chính gồm bảy nhóm: tín dụng, thị trường (giá, lãi suất, tỷ giá), thanh khoản, vận hành, danh tiếng, chiến lược và rủi ro hệ thống khi cả thị trường sụp. Doanh nghiệp nhỏ nên bắt đầu từ thanh khoản và tín dụng, nơi tiền cạn nhanh nhất.

Quy trình gồm nhận diện, đo, chọn cách ứng phó rồi theo dõi; đo bằng xác suất và mức thiệt hại, phân tích độ nhạy và thử sức chịu đựng (stress test). Bốn cách ứng phó là tránh hoạt động quá rủi ro, giảm bằng kiểm soát và đa dạng hoá, chuyển giao bằng bảo hiểm hay hợp đồng phòng ngừa, chấp nhận có chủ đích kèm dự phòng. Thường ghép theo thiệt hại và xác suất: lớn mà hiếm thì chuyển giao, lớn và dễ xảy ra thì tránh, nhỏ mà hay xảy ra thì giảm, nhỏ và hiếm thì chấp nhận.

Công cụ phái sinh dùng để phòng ngừa: quyền chọn cho quyền mua hoặc bán ở giá định trước mà không bắt buộc; hợp đồng kỳ hạn và tương lai cam kết mua bán ở giá và ngày định trước, kỳ hạn ký riêng với ngân hàng còn tương lai chuẩn hoá trên sàn; hoán đổi (swap) là hai bên đổi dòng tiền, như lãi thả nổi lấy lãi cố định. Dùng để đầu cơ thì có thể lỗ nặng.

Tỷ giá gồm giá giao ngay, giá kỳ hạn và tỷ giá chéo giữa hai đồng tiền không phải USD. Rủi ro giao dịch là lỗ do tỷ giá đổi giữa lúc ký hợp đồng và lúc thanh toán; rủi ro quy đổi xuất hiện khi báo cáo ngoại tệ của công ty con được quy sang đồng tiền báo cáo. Rủi ro chính trị và rủi ro quốc gia cần theo dõi thêm, giảm bằng phòng ngừa và đa dạng hoá hoạt động.

Ma trận xác suất và thiệt hại gợi ý cách ứng phó rủi ro
Hình 5. Gợi ý ghép rủi ro với cách ứng phó: minh hoạ khái niệm.

Mua bán sáp nhập, tái cấu trúc và các công cụ chiến lược khác

Sáp nhập gộp hai công ty thành một, mua lại là bên này mua bên kia. Theo quan hệ giữa hai bên có sáp nhập ngang, dọc chuỗi cung ứng, tập đoàn đa ngành, mở rộng thị trường, mở rộng sản phẩm; theo hình thức có mua tài sản, mua cổ phần và sáp nhập ngược. Quy trình gồm hoạch định, tìm mục tiêu, định giá, thẩm định chi tiết (due diligence), đàm phán, lập hồ sơ pháp lý, đóng giao dịch và hội nhập.

Định giá dùng chiết khấu dòng tiền (DCF), so với công ty niêm yết tương đương, so với thương vụ gần đây, giá trị tài sản trừ nợ hoặc giá trị kinh tế gia tăng (EVA); cách nào cũng nhạy với giả định, nên đồng hiệp lực tài chính phải chứng minh bằng số. Mua lại bằng đòn bẩy (LBO) lấy tài sản và dòng tiền của công ty bị mua làm bảo đảm cho khoản vay nên dễ vỡ nợ; tái cấu trúc gồm đổi cơ cấu nợ, bán tài sản, tách mảng.

Chi phí theo hoạt động (ABC) đáng làm khi chi phí chung lớn, chi phí mục tiêu khi cạnh tranh về giá, quản trị theo giá trị khi cần gắn thưởng với giá trị dài hạn. Điều chỉnh lợi nhuận như ghi nhận doanh thu sớm có thể thành gian lận; quản lý danh mục, tài chính hành vi, ESG và công nghệ tài chính là xu hướng cần theo dõi.

Bộ biểu mẫu đi kèm: dùng để làm gì và cần sửa gì

Bộ biểu mẫu đi kèm có ba mươi ba tờ in được, viết cho tài chính cá nhân và gia đình chứ không phải doanh nghiệp. Có năm nhóm: ghi chép thu chi; ngân sách tháng, quý, năm cùng quy tắc chia thu nhập 50-30-20 hay 70-20-10; tiết kiệm (quỹ khẩn cấp, quỹ dành dần cho khoản chi biết trước, thử thách theo tuần); nợ (sổ theo dõi, trả nợ cuốn tuyết, thẻ tín dụng, mua trả sau); và nhóm khác như đầu tư, hưu trí, kỳ nghỉ.

Chủ doanh nghiệp nhỏ dùng được bộ này theo ba cách. Một là tách tiền: sổ thu chi và ngân sách tháng của gia đình nằm riêng khỏi tài khoản công ty, vì trộn lẫn là gốc của nhiều cơn kẹt tiền. Hai là mượn khung: mẫu ngân sách có cột kế hoạch và thực tế chính là công cụ kiểm soát chênh lệch. Ba là quỹ khẩn cấp và quỹ dành dần cho thuế, bảo hiểm, tiền thuê.

Cần sửa khi dùng tại Việt Nam: mẫu mua trả sau và thẻ tín dụng theo thói quen nước ngoài nên đổi sang hình thức đang dùng trong nước; quy tắc chia thu nhập chỉ là quy ước tham khảo; mẫu thẻ tín dụng có ô cho số thẻ, mã xác minh, mã PIN và mật khẩu, đừng ghi những thông tin ấy lên giấy. Bộ này thiếu sổ công nợ, tồn kho và dự báo tiền theo tuần nên cần tự thiết kế.

Tình huống tại Việt Nam: chuẩn mực kế toán mới, lãi suất, tỷ giá và cổ tức

Về báo cáo, theo bộ slide của Grant Thornton Việt Nam, Thông tư 99/2025/TT-BTC thay Thông tư 200/2014/TT-BTC (trừ phần kế toán cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước) cùng ba thông tư khác, hiệu lực từ ngày 01/01/2026 cho năm tài chính mở từ ngày đó; doanh nghiệp vừa và nhỏ được lựa chọn áp dụng [4]. Hãy hỏi kế toán khuôn khổ nào đang áp dụng trước khi so số liệu giữa các năm.

Chi phí vốn vay cũng nhích lên: Tạp chí Kinh tế - Tài chính ngày 19/06/2026, dẫn báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, ghi lãi suất cho vay bình quân bằng đồng Việt Nam tăng từ 7,0-9,3%/năm ở tháng 1 lên 8,0-10,1%/năm ở tháng 5, tức tăng 0,8-1 điểm phần trăm [5]. Với doanh nghiệp đang vay thả nổi hoặc sắp vay, đó là lý do chạy lại bảng NPV và hệ số trả lãi.

Về tỷ giá, Thời báo Tài chính Việt Nam ngày 28/01/2026 cho biết tỷ giá tại các ngân hàng thương mại đóng cửa năm 2025 ở 26.377 đồng đổi 1 USD, tăng hơn 3,2% so với đầu năm; Nhiệt điện Hải Dương ghi lỗ chênh lệch tỷ giá 16,85 tỷ đồng năm 2024, còn Biwase ký hợp đồng phái sinh lãi suất và hoán đổi tiền tệ chéo, FPT dùng chính sách phòng ngừa tỷ giá và hợp đồng hoán đổi tiền tệ [6]. Rủi ro tỷ giá vì thế hiện ra thành khoản lỗ và được xử lý bằng công cụ phái sinh.

Về cổ tức, một trang hỏi đáp pháp luật trích Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020: công ty cổ phần chỉ trả cổ tức của cổ phần phổ thông khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và tài chính, đã trích lập quỹ và bù lỗ trước đó, và sau khi chia vẫn đủ tiền trả nợ đến hạn; cổ tức phải thanh toán trong 06 tháng kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên [7].

Cách áp dụng từng bước trong bốn tuần

Thứ tự sau phù hợp với doanh nghiệp nhỏ chưa có phòng tài chính riêng và mất khoảng bốn tuần; mỗi bước tạo ra một sản phẩm kiểm được, và nên làm đúng thứ tự vì bước sau dùng số của bước trước.

  • Bước 1 (tuần 1): tách sổ thu chi của chủ khỏi của doanh nghiệp, dựng ba báo cáo mười hai tháng gần nhất, tính năm họ chỉ số và đặt cạnh mức của ngành, mức bên cho vay đòi.
  • Bước 2 (tuần 2): lập dự báo tiền theo tuần cho mười ba tuần tới và ngân sách tháng có cột thực tế, giải thích ba chênh lệch lớn nhất.
  • Bước 3 (tuần 3): đưa mọi đề xuất đầu tư vào bảng NPV và hoàn vốn, thử hai mức chiết khấu.
  • Bước 4 (tuần 3): kê khoản vay theo kỳ hạn, đồng tiền, lãi cố định hay thả nổi để thấy rủi ro lãi suất, tỷ giá.
  • Bước 5 (tuần 4): chọn cách ứng phó cho rủi ro lớn, viết quy tắc chia hay giữ lợi nhuận.

Sai lầm thường gặp và giới hạn của bản đồ này

Sai lầm hay gặp: coi lợi nhuận là tiền, đọc một chỉ số đơn lẻ, lập ngân sách rồi không so sánh, chọn dự án chỉ theo hoàn vốn hoặc IRR, vay ngắn hạn cho tài sản dài hạn, vay ngoại tệ khi doanh thu bằng đồng Việt Nam, và trộn tiền của chủ với tiền doanh nghiệp.

Giới hạn: CAPM, P/E, định giá thương vụ hay phái sinh xuất phát từ công ty đại chúng; doanh nghiệp nhỏ thiếu dữ liệu thị trường nên phải dùng bản rút gọn. Bài là tổng quan, không phải tư vấn tài chính, thuế hay đầu tư.

Kết luận

Quản trị tài chính không phải tập công thức mà là thói quen đặt đúng câu hỏi theo đúng thứ tự: tiền có đủ không, dự án có tạo giá trị hơn chi phí vốn không, nợ có vừa sức không, lợi nhuận nên chia hay giữ. Hãy bắt đầu bằng dòng tiền theo tuần và vòng so sánh ngân sách, vì chúng rẻ nhất mà bắt lỗi sớm nhất.

Nguồn và phương pháp

Bài là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ AI, diễn đạt lại bằng lời riêng, không phải bản dịch. Tài liệu nguồn là Financial Management EXPLAINED by Business Explained v5, trang 1-71, cùng bộ Finance Management Printable Sheets Pack cho phần biểu mẫu. Các nguồn web được truy cập ngày 21/10/2026.

Điều chưa kiểm chứng: Thông tư 99/2025/TT-BTC đọc qua slide của hãng tư vấn, văn bản trích xuất bị xáo trộn, chưa đối chiếu toàn văn và chưa xác nhận hiệu lực hiện nay; Điều 135 đọc qua trang hỏi đáp, cũng chưa đối chiếu toàn văn; các bài báo về lãi suất và tỷ giá là số liệu do báo nêu; ví dụ số về cửa hàng vật liệu xây dựng, cửa hàng thuốc và xưởng nhựa là giả định. Định nghĩa và công thức cơ bản dựa trên tài liệu nguồn, có sửa chỗ nguồn nhầm theo kiến thức giáo trình; chỉ các lý thuyết về cơ cấu vốn và cổ tức được đối chiếu thêm bằng nguồn web. Bạn nên tìm tài liệu gốc để đọc đầy đủ.