BDSGPHẠM VĂN THƯNHÀ SÁNG LẬP BDSG
ENTài khoản
Kết nối
Menu
Siêu hướng dẫn · Nội dung có hỗ trợ AI

Quản trị cấp cao: tư duy hệ thống, nguyên nhân gốc và lập kịch bản (Phần 4/5)

Đăng ngày 23/10/2026

Mục lục bài nghiên cứu
Ảnh đại diện bài Quản trị cấp cao, phần 4/5

Tóm tắt và điều cần nhớ

Phần bốn, trong năm phần của tập ba về quản trị cấp cao, chuyển từ chuyện người học sang chuyện tổ chức nhìn: ba kỷ luật còn lại của Senge, tư duy hệ thống, cộng đồng thực hành, tìm nguyên nhân gốc, quản trị thích ứng và lập kịch bản. Sự cố lớn hiếm khi do một lỗi riêng lẻ; nó sinh ra từ cách các bộ phận, vòng phản hồi và niềm tin ngầm tác động qua lại.

  • Mô hình tư duy là niềm tin ngầm; tổ chức học khi dám lôi chúng ra và hỏi lại.
  • Cộng đồng thực hành gồm lĩnh vực, cộng đồng, thực hành, và thường cần được nuôi dưỡng.
  • Vòng phản hồi, độ trễ và hiệu ứng bậc hai giải thích vì sao giải pháp hôm nay thành vấn đề ngày mai.
  • Năm lần hỏi hợp với sự cố gọn; xương cá hợp với vấn đề dính nhiều phòng ban.
  • Môi trường khó đoán đòi vòng hành động, quan sát, học; kịch bản là tập dượt, không phải dự báo.

Khi sửa một chỗ lại hỏng chỗ khác

Nhiều đội quản lý sống trong một chu kỳ: triệu chứng xuất hiện, vá nhanh, triệu chứng quay lại ở chỗ khác. Mỗi người nhìn một mảnh hệ thống bằng niềm tin riêng, còn hệ quả của quyết định đến chậm và từ hướng không ai canh. Phần này trả lời hai câu hỏi: tổ chức đang tin điều gì mà chưa ai nói ra, và các bộ phận tác động lên nhau theo cơ chế nào.

Khái niệm cốt lõi và thuật ngữ

Từ ngữ trong mảng này dễ bị trộn nghĩa, nên mỗi khái niệm sau chỉ dùng đúng một nghĩa trong bài: vòng phản hồi không phải lời góp ý, kịch bản không phải dự báo, nguyên nhân gốc không phải người có lỗi.

  • Mô hình tư duy: niềm tin và giả định ngầm định hình cách ta đọc một tình huống.
  • Vòng phản hồi: chuỗi nhân quả khép kín, kết quả quay lại làm đầu vào; vòng tăng cường khuếch đại thay đổi, vòng cân bằng kéo về mức ổn định.
  • Độ trễ: khoảng cách thời gian giữa hành động và kết quả thấy được.
  • Hiệu ứng bậc hai: hệ quả của hệ quả, đến sau kết quả trực tiếp.
  • Nguyên nhân gốc: nguyên nhân sâu nhất mà sửa được thì sự cố khó lặp lại.
  • Kịch bản: câu chuyện nhất quán về một tương lai có thể xảy ra, dùng để thử chiến lược.
  • Mốc báo hiệu: dấu hiệu quan sát được cho biết kịch bản nào đang thành thật.

Tổ chức nhìn thấy gì: mô hình tư duy, tầm nhìn chung, học theo nhóm

Cuốn The Fifth Discipline của Peter Senge, xuất bản lần đầu năm 1990, dựng tổ chức học hỏi trên năm kỷ luật, với tư duy hệ thống là nền móng [1]. Phần ba đã bàn kỷ luật làm chủ bản thân; ba kỷ luật tiếp theo cùng biến điều ngầm thành điều nói ra được, ở ba cấp: niềm tin, hướng đi, cách làm việc chung.

Mô hình tư duy là niềm tin đã thành phản xạ, như khách chỉ mua theo giá hay người giỏi không cần hỏi. Theo tài liệu nguồn, tổ chức học khi giúp người ta nhận ra, chất vấn và sửa các niềm tin kìm hãm đổi mới hay hợp tác, bằng ba câu: vì sao ta làm thế này, niềm tin nào đã hết tác dụng, còn cách nhìn nào khác. Đề xuất của người viết: trước quyết định lớn, mỗi người ghi một dòng điều mình đang cho là đúng, rồi đối chiếu với bằng chứng gần nhất.

Tầm nhìn chung không phải khẩu hiệu treo tường mà là câu trả lời cho hai câu hỏi: ta muốn tạo ra tương lai nào, và vì sao điều đó đáng làm. Theo tài liệu nguồn, nó được dựng cùng nhiều nhóm, nhiều cấp thay vì áp từ trên xuống. Phép thử của người viết: hỏi năm người ở năm bộ phận tầm nhìn là gì; nếu năm câu trả lời không gần nhau thì đó vẫn là khẩu hiệu.

Học theo nhóm cho ra kết quả mà từng người không làm nổi. Tài liệu nguồn nêu ba nét: đối thoại hơn tranh luận (lắng nghe sâu, tạm treo giả định), cùng tạo tri thức từ góc nhìn của nhau, cùng luyện kỹ năng qua nhiều vòng lặp. Nơi dễ thực hành nhất là buổi nhìn lại cuối chu kỳ làm việc, kết thúc bằng một thay đổi cụ thể có người nhận.

Năm kỷ luật của Senge
Hình 1. Năm kỷ luật, tư duy hệ thống ở giữa.

Tri thức chảy qua đâu: cộng đồng thực hành và mạng chia sẻ

Theo trang giới thiệu của nhóm Wenger-Trayner, cộng đồng thực hành là nhóm người cùng quan tâm hoặc say mê một việc họ làm và học cách làm tốt hơn nhờ tương tác đều đặn. Cấu trúc gồm lĩnh vực chung; cộng đồng, nơi thành viên cùng hoạt động và giúp nhau; và thực hành, tức kho kinh nghiệm, câu chuyện, công cụ, cách xử lý vấn đề lặp lại [2]. Một số cộng đồng tự tổ chức rất hiệu quả, nhưng phần lớn cần được nuôi dưỡng để thành viên thấy đáng bỏ thời gian [2].

Mạng chia sẻ tri thức rộng và lỏng hơn: nối người qua vai trò, phòng ban, địa lý, sống bằng sự có đi có lại và thường nương vào diễn đàn hay công cụ nhắn tin. Tài liệu nguồn nhắc hai vai trò đáng đầu tư: người nối (broker), bắc cầu giữa các nhóm, và người ghép cặp, nối câu hỏi với người biết trả lời. Nên giữ mạng nhẹ, coi tri thức là tài sản chung, và đo mức tham gia, thời gian trả lời một câu hỏi, số lần giải pháp được dùng lại.

Muốn dựng cộng đồng: chọn lĩnh vực nhiều người cùng vướng; mời người mà đồng nghiệp hay tìm đến hỏi làm đồng dẫn dắt; mở một kênh và lịch gặp cố định; để thành viên dạy nhau qua buổi chia sẻ ca việc; công bố cộng đồng đã giúp giải việc thật nào. Với kho bài học, tài liệu nguồn mô tả hệ thống của NASA ghi mỗi mục gồm tóm tắt, bối cảnh, nguyên nhân gốc, câu bài học và khuyến nghị; doanh nghiệp nhỏ có thể mượn mẫu năm phần ấy.

So sánh hai cấu trúc chia sẻ
Hình 2. Cộng đồng thực hành và mạng chia sẻ.

Vòng phản hồi, độ trễ và hiệu ứng bậc hai

Tư duy tuyến tính vẽ chuỗi vấn đề, giải pháp, kết quả; hệ thống thật vẽ thành vòng. Vòng tăng cường khuếch đại thay đổi, theo chiều tốt như tiếng lành đồn xa kéo thêm khách, hoặc chiều xấu. Vòng cân bằng là cái phanh, như bộ điều nhiệt hay hệ thống đặt hàng chỉnh theo tồn kho. Chính sách mới cứ bị chậm hoặc bị chống thường là dấu hiệu của một vòng cân bằng ẩn, do nỗi sợ, thói quen hay ràng buộc chưa ai gọi tên.

Hình dung một dịch vụ chuyển nhà (ví dụ giả định): cắt tổ bốc xếp dự phòng để bớt chi phí, ca của người còn lại dày thêm, mệt hơn thì giao đồ trễ, khách phàn nàn và đòi giảm cước, doanh thu giảm, công ty lại siết chi phí. Từng khâu hợp lý khi nhìn riêng, nhưng cả vòng là xoáy tăng cường chiều xấu (Hình 3). Muốn phá, phải can thiệp vào một mắt xích, chẳng hạn giữ tổ dự phòng và tính chi phí thật của một chuyến giao trễ.

Độ trễ làm vòng khó đọc: tác động có thể đến sau nhiều tuần hay nhiều tháng, nên người quyết định dễ nhận công quá sớm, bỏ chiến lược trước khi nó chín, hoặc đổ nhầm nguyên nhân. Hiệu ứng bậc hai là phần kéo theo: một cửa hàng nông sản giả định giảm giá cuối ngày để dọn hàng thì hàng đi nhanh (bậc một), nhưng khách quen học cách đến mua lúc cuối ngày và giá bình quân tụt (bậc hai). Kho (khách quen, hàng tồn) đầy hay cạn theo chênh lệch giữa dòng vào và dòng ra, nên tỷ lệ bỏ đi tăng nhẹ lâu mới thấy.

Vòng xoáy quá tải
Hình 3. Vòng tăng cường chiều xấu, ví dụ giả định.

Bức tường giữa các phòng ban: dấu hiệu, nguyên nhân, cách phá

Bức tường hình thành dần khi tổ chức lớn lên: mỗi phòng ban chăm mục tiêu và chỉ số riêng, ngại chia sẻ, trung thành với phòng hơn với cả tổ chức. Dấu hiệu hay gặp là việc làm trùng, trải nghiệm khách thiếu nhất quán, tranh nguồn lực, và câu cửa miệng kiểu việc đó không phải của chúng tôi. Nguyên nhân thường là thưởng theo mục tiêu từng phòng, đường báo cáo lệch nhau, thiếu nền tảng chung và văn hoá không thưởng hợp tác, chứ ít khi do ác ý.

Cách phá bắt đầu bằng bản đồ phụ thuộc: công việc của ta bắt đầu từ đâu, ai dựa vào ta, vòng phản hồi nào nối hai bên. Công cụ gồm nhóm liên chức năng, mục tiêu chung đo bằng thứ khách thấy thay cho chỉ số riêng từng phòng, kênh thông tin mở, luân chuyển nhân viên sang phòng khác, và lãnh đạo hợp tác công khai. Tất cả chỉ ăn khi mọi người an toàn để báo mối lo, nhận lỗi và nhờ giúp qua ranh giới phòng ban.

Tìm nguyên nhân gốc: năm lần hỏi và sơ đồ xương cá

Năm lần hỏi là hỏi vì sao nối tiếp, thường ba đến năm lượt, cho tới khi gặp nguyên nhân sửa được; không cần phần mềm, hợp với lỗi lặp lại. Sơ đồ xương cá, theo tài liệu nguồn do Kaoru Ishikawa phát triển, đặt vấn đề ở đầu cá, các xương là nhóm nguyên nhân có thể có (con người, quy trình, thiết bị, vật liệu, môi trường, quản lý), hợp với vấn đề nhiều tầng. Nên dựng xương cá trước, chọn nhánh đáng ngờ nhất, rồi hỏi vì sao dọc nhánh đó (Hình 4).

Ví dụ giả định, công ty dọn vệ sinh nhận phàn nàn vì nhân viên đến sai giờ. Vì sao sai giờ? Điều phối gửi lịch cũ. Vì sao cũ? Lịch sửa ở một bảng tính còn điều phối đọc bảng khác. Vì sao hai bảng? Bộ phận chăm sóc khách và điều phối mỗi bên giữ một bảng. Vì sao? Chưa ai được giao một nơi chung cho lịch dọn dẹp. Nguyên nhân gốc là lịch chung không có người chịu trách nhiệm, không phải nhân viên bất cẩn.

Bốn cái bẫy: dừng ở lỗi con người thay vì hỏi quy trình nào để lỗi xảy ra; dừng sau một lần hỏi; nghĩ theo nhóm khi người ồn ào lấn át người ít nói; chẩn đoán xong rồi không theo dõi việc sửa.

So sánh hai công cụ
Hình 4. Năm lần hỏi và xương cá: chọn theo vấn đề.

Quản trị thích ứng khi môi trường khó đoán

VUCA gồm biến động, bất định, phức tạp và mơ hồ. Theo tài liệu nguồn, bất định là biết nguyên nhân mà khó thấy kết quả; mơ hồ là tình huống chưa có tiền lệ nên kinh nghiệm cũ ít giúp. Kế hoạch đặt một lần mỗi năm rồi thi hành mù sẽ nhanh lỗi thời; thứ cần có là nhịp cảm nhận, học và chỉnh. Quản trị thích ứng đặt cược vào học và linh hoạt nhiều hơn vào dự đoán và kiểm soát.

Bốn nguyên tắc: hành động rồi quan sát và học; đặt cược nhỏ trước khi đầu tư lớn; phản hồi liên tục từ đội, khách và dữ liệu; cập nhật kế hoạch đều theo hiểu biết mới. Bốn nền giúp thích ứng: văn hoá cho phép thử mà không bị phạt, thông tin gần thời gian thực, quyết định giao gần hiện trường trong rào chắn rõ ràng, và thiết kế linh hoạt như nhóm theo mô-đun. Người lãnh đạo thích ứng giải nghĩa tình huống rối, đặt câu hỏi đúng, trao quyền và giữ tò mò. Chỉ số do người viết đề xuất để kiểm nhịp: thời gian từ lúc thấy tín hiệu đến lúc ra quyết định.

Nhìn trước mà không đoán trước: tầm nhìn xa và kịch bản

Tầm nhìn xa chiến lược quét thay đổi và hình dung nhiều tương lai; phân tích kịch bản thử quyết định hôm nay trước nhiều tình huống nếu như. Bước đầu là quét đường chân trời: theo dõi xu hướng, tín hiệu yếu và chuyển dịch bất ngờ ở công nghệ, hành vi khách, quy định, môi trường, địa chính trị, rồi nối các điểm rời rạc, kể cả từ ngoài ngành. Bước hai là dựng vài thế giới, mỗi thế giới có logic riêng và được kể như một câu chuyện.

Theo tài liệu nguồn, quy trình thường dùng gồm nêu câu hỏi trọng tâm, liệt kê động lực, chọn hai bất định vừa khó đoán vừa ảnh hưởng nhất làm hai trục để ra bốn thế giới, rồi thử chiến lược trong từng thế giới. Bước ba biến kịch bản thành quyết định hôm nay: lộ trình chỉ chạy được trong một thế giới thì phải sửa; chuẩn bị phương án dự phòng, khoản đầu tư có quyền chọn và mốc báo hiệu. Bước bốn đưa câu điều gì đang đổi vào họp định kỳ; bước năm nhìn lại tín hiệu nào đúng, ta bỏ sót gì.

Năm bước tầm nhìn xa
Hình 5. Năm bước từ quét tín hiệu đến nhìn lại.

Cách áp dụng từng bước

Các công cụ trên chỉ đáng dùng khi gắn vào một vấn đề thật. Sáu bước dưới đây dành cho đội quản lý đang gặp một vấn đề lặp lại, hoặc đứng trước một quyết định lớn nhiều bất định, và muốn thử trong vài tuần.

  • Bước 1: Chọn một vấn đề lặp lại; mỗi người viết nguyên nhân mình tin, rồi đặt các niềm tin cạnh nhau.
  • Bước 2: Vẽ vòng: vài biến chính, mũi tên, vòng tăng cường hay cân bằng, chỗ có độ trễ.
  • Bước 3: Chạy năm lần hỏi trên nhánh nghi ngờ nhất, hoặc xương cá nếu dính nhiều phòng ban.
  • Bước 4: Lập một cộng đồng nhỏ: một người nối, một kênh, một buổi chia sẻ định kỳ, một thẻ bài học năm phần.
  • Bước 5: Với quyết định lớn, chọn hai bất định chính, phác bốn thế giới, ghi quyết định chắc đúng, quyền chọn và mốc báo hiệu.
  • Bước 6: Đặt câu điều gì đang đổi vào họp định kỳ; sau một quý, nhìn lại tín hiệu nào đúng, điều gì bị sót.

Ví dụ quốc tế: Boeing, NASA và Shell

Báo cáo cuối cùng của Ủy ban Giao thông và Hạ tầng Hạ viện Hoa Kỳ (nhân viên đa số soạn, tháng 9/2020) kết luận hai vụ rơi máy bay 737 MAX, làm chết 346 người, bắt nguồn từ lỗi thiết kế, giả định sai về phản ứng của phi công và thất bại quản lý [3]. Hệ thống MCAS kích hoạt theo dữ liệu của một cảm biến góc tấn duy nhất, giữa áp lực tài chính phải cạnh tranh với Airbus A320neo; Boeing còn giữ lại thông tin quan trọng với cơ quan quản lý, khách hàng và phi công [3].

Tóm tắt của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Hoa Kỳ về vụ tàu Columbia năm 2003, khiến bảy phi hành gia thiệt mạng, nêu nguyên nhân có gốc trong lịch sử và văn hoá chương trình tàu con thoi, có rào cản tổ chức khiến thông tin an toàn trọng yếu không đến nơi, và cả Columbia lẫn Challenger đều là thất bại trong việc nhìn trước [4]. Theo người viết, hai ca này cho thấy cảnh báo có thể tồn tại mà vẫn không tới người quyết định.

Chuyên mục ngày 2/11/2023 của ba nhà nghiên cứu trên Polytechnique Insights kể các nhóm kịch bản của Ted Newland và Pierre Wack tại Shell dùng như công cụ dạy tư duy; với Wack, mục đích chưa bao giờ là dự đoán tương lai [5]. Shell soạn kịch bản về khủng hoảng nguồn cung dầu, và khi giá dầu nổ, công ty sẵn sàng hành động [5]. Các tác giả không đưa số liệu chứng minh lợi thế của Shell.

Tình huống áp dụng tại Việt Nam

Ở Việt Nam, chu kỳ giá lợn hơi cho thấy độ trễ làm việc ra sao. Theo bài ngày 28/8/2020 trên Thị trường Tài chính Tiền tệ, Cục Chăn nuôi cho biết giá lợn thịt đã giảm 15 đến 18 nghìn đồng mỗi kg so với đỉnh, và do chu kỳ sinh học nên tái đàn phải đến cuối quý III, đầu quý IV mới cân đối được cung cầu [6]. Hơn một năm sau, VnBusiness ngày 5/10/2021 ghi giá lợn hơi ngày 4/10 còn 41.000 đến 49.000 đồng mỗi kg, và một giám đốc doanh nghiệp nhận xét người nuôi nhỏ hay chạy theo đám đông, giá lợn giống gần 3 triệu đồng mỗi con vẫn tái đàn [7]. Theo người viết, đó là vòng cân bằng có độ trễ; mỗi bài chỉ cho một đoạn của vòng.

Kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy cách dùng nhiều kịch bản thay cho một con số. Báo Pháp luật Việt Nam ngày 19/8/2009 ghi Bộ vừa hoàn tất kịch bản, gọi là cơ sở ban đầu để bộ, ngành, địa phương lập kế hoạch ứng phó [8]. Tạp chí Công Thương ngày 18/4/2013 viết bản cập nhật năm 2012 dùng ba mức phát thải thấp, trung bình, cao, và sẽ cập nhật tiếp năm 2015 sau báo cáo đánh giá lần thứ năm của IPCC [9]. Cổng Bộ Công Thương ngày 2/3/2017 ghi Bộ Tài nguyên và Môi trường giới thiệu bản cập nhật năm 2016 [10]. Đây là kịch bản khí hậu, không phải kinh doanh, nhưng cách dùng giống nhau: vài lối đi, cập nhật khi có tin mới.

Mạng bệnh viện vệ tinh chuyển kỹ thuật từ tuyến trên xuống tuyến dưới. VnBusiness ngày 18/3/2016 ghi đề án 2013 đến 2020 của Bộ Y tế, còn bộ trưởng nhận định lãnh đạo các địa phương chưa rõ mô hình này là gì nên chính quyền nhiều nơi chưa duyệt hoặc chưa cấp kinh phí [11]. Báo Lào Cai ngày 11/2/2024 ghi cả nước có 23 bệnh viện hạt nhân và 138 bệnh viện vệ tinh tại 62 tỉnh, thành, có luân phiên có thời hạn và hội chẩn từ xa [12].

Sai lầm thường gặp, giới hạn và khi nào không nên dùng

  • Vẽ sơ đồ vòng cho đẹp rồi không dùng nó để chọn chỗ can thiệp.
  • Coi một vòng suy luận là sự thật thay vì giả thuyết chờ kiểm bằng số liệu.
  • Dừng năm lần hỏi ở lỗi con người hoặc ở nguyên nhân đầu tiên nghe hợp lý.
  • Dựng kịch bản xong rồi cất ngăn kéo, hoặc gán xác suất rồi dùng như dự báo.
  • Ép lập cộng đồng theo chỉ tiêu, hay chỉ đếm lượt tham gia.
  • Đem công cụ phân tích vào lúc sự cố đang cháy: xử lý trước, phân tích sau.

Giới hạn: phần Việt Nam ở trên chỉ dựa vào vài bài báo và diễn giải của người viết, nên chưa đủ để kết luận doanh nghiệp trong nước dùng các công cụ này ở mức nào. Các tỷ lệ tiết kiệm, năng suất trong tài liệu nguồn bị bỏ vì không có nguồn kiểm chứng. Nhóm vài người, hoặc vấn đề có một nguyên nhân rõ, không cần sơ đồ vòng hay kịch bản.

Kế hoạch bốn tuần và câu hỏi tự kiểm

  • Tuần 1: chọn một vấn đề lặp lại, thu niềm tin của từng người về nguyên nhân, vẽ vòng đầu tiên.
  • Tuần 2: chạy năm lần hỏi hoặc xương cá, giao một người chịu trách nhiệm sửa.
  • Tuần 3: lập một cộng đồng nhỏ cùng thẻ bài học; nếu có quyết định lớn thì dựng bốn thế giới.
  • Tuần 4: họp nhìn lại, kiểm tín hiệu và độ trễ, sửa vòng.

Câu hỏi tự kiểm: niềm tin nào của đội chưa từng bị hỏi lại? Giải pháp gần nhất của bạn đã kéo theo hệ quả nào ở phòng ban khác? Có chỉ số nào bạn đọc quá sớm so với độ trễ của nó? Nếu một bất định lớn xảy ra vào năm sau, dấu hiệu đầu tiên sẽ ở đâu?

Kết luận

Các công cụ của phần này có chung một thói quen: dừng lại nhìn trước khi hành động và chịu để niềm tin của mình bị hỏi. Chúng giúp thấy vấn đề sớm hơn nhưng không thay được lúc sự cố đã nổ ra. Phần năm, phần cuối của chuỗi, đi tiếp từ đó: kế hoạch ứng phó khủng hoảng, lãnh đạo và truyền thông trong khủng hoảng, giữ hoạt động và khôi phục sau gián đoạn, sức bền của tổ chức, rà soát sau khủng hoảng, hai ca điển hình và lời khép chuỗi về việc học suốt đời.

Nguồn và phương pháp

Bài là tổng hợp và phân tích có hỗ trợ trí tuệ nhân tạo (AI), diễn đạt lại bằng lời riêng, không phải bản dịch. Bài dựa trên tài liệu Top Tier Management của Business Explained, tập 3, phần bốn trong năm phần, tương ứng các trang 242 đến 325. Cách gom theo câu hỏi người đọc, bản đồ phụ thuộc, thẻ bài học năm phần, phép thử tầm nhìn chung, chỉ số thời gian từ tín hiệu đến quyết định và các ví dụ giả định là của người viết. Các nguồn web được truy cập ngày 23/10/2026 giờ Việt Nam.

  • [1] Wikipedia, mục The Fifth Discipline của Peter Senge.
  • [2] Wenger-Trayner, trang Introduction to communities of practice.
  • [3] Ủy ban Giao thông và Hạ tầng Hạ viện Hoa Kỳ, báo cáo cuối cùng về thiết kế, phát triển và chứng nhận Boeing 737 MAX, tháng 9/2020.
  • [4] Congressional Research Service, báo cáo RS21606 về kết luận của Hội đồng điều tra tai nạn tàu Columbia, 2/9/2003.
  • [5] Polytechnique Insights, chuyên mục Case study: how Shell anticipated the 1973 oil crisis, 2/11/2023.
  • [6] Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ, bài về tái đàn và giá lợn thịt, 28/8/2020.
  • [7] VnBusiness, bài về nguy cơ chăn nuôi lợn rơi vào khủng hoảng, 5/10/2021.
  • [8] Báo Pháp luật Việt Nam, bài về kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, 19/8/2009.
  • [9] Tạp chí Công Thương, bài về cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, 18/4/2013.
  • [10] Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương, trang về kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam, 2/3/2017.
  • [11] VnBusiness, bài về bệnh viện vệ tinh, 18/3/2016.
  • [12] Báo Lào Cai, bài về năng lực y tế cơ sở và quá tải bệnh viện, 11/2/2024, đăng theo Báo Tin tức.

Điều chưa kiểm chứng: Wikipedia và trang giới thiệu của Wenger-Trayner là nguồn thứ cấp; trang [1] chỉ xác nhận tác giả, năm 1990, tên năm kỷ luật và vai trò nền móng của tư duy hệ thống, còn phần diễn giải mô hình tư duy, tầm nhìn chung, học theo nhóm và các công cụ khác lấy từ tài liệu nguồn. Báo cáo [3] và bản tóm tắt [4] chỉ được đọc qua phần trích mà công cụ tải trang trả về, không đọc toàn văn; trang [4] chỉ ghi nhãn CRS Report, và bài hiểu đó là Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Hoa Kỳ. Chuyên mục [5] là bài của các nhà nghiên cứu và không đưa số liệu chứng minh lợi thế của Shell.

Hai bài về giá lợn và ba bài về kịch bản khí hậu chỉ cho từng mảnh; chuỗi giá cao, tái đàn, dư cung, giá giảm là cách đọc của người viết, và bài không đối chiếu số liệu giá với nguồn chính thức. Các bài về kịch bản khí hậu không nêu các kịch bản RCP nên bài không nói tới chúng. Số liệu bệnh viện vệ tinh lấy từ bài báo đăng theo Báo Tin tức, không nêu nguồn riêng, chưa đối chiếu văn bản gốc. Các con số của tài liệu nguồn về cộng đồng thực hành, tiết kiệm, thời gian lập kế hoạch và thứ hạng của Shell không có nguồn nên không dùng. Các ví dụ giả định không gắn tên doanh nghiệp thật. Nên tìm tài liệu gốc để đọc đầy đủ.